Insulin Regular (Human) – Diamisu R

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Insulin, Insulin Regular (Human), Insulin tác dụng nhanh

Phân loại: Hormon làm hạ glucose máu, hormon chống đái tháo đường, các insulin.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): A10AB01 (nhanh) ; A10AC01 (trung bình) ; A10AD01 (Trung bình+tác dụng nhanh) ,A10AE01 (Kéo dài); A10AF01 (hít).

Biệt dược gốc:

Biệt dược: Diamisu R

Hãng sản xuất : Getz Pharma (PVT.) Ltd

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

DIAMISU-R: 100 lU/mL, 10mL/ Lọ/ Hộp.

DIAMISU-N: 100 lU/mL. 10mL/ Lọ/ Họp.

DIAMISU-70+30: 100 lU/mL, 10mL/ Lọ/ Hộp

Mỗi mL có chứa: 100 IU Insulin

Thuốc tham khảo:

DIAMISU R
Mỗi ml dung dịch tiêm có chứa:
Insulin …………………………. 100 IU
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Diamisu được chỉ định để điều trị Đái tháo đường typ I, Đái tháo đường typ II, dùng một mình hoặc kết hợp với thuốc uống chống đái tháo đường. Bệnh nhần bị đái tháo đường thời kỳ thai nghén, cấp cứu tăng đường huyết trong đái tháo đường nhiễm acid cetonic

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

TRƯỚC KHI TIÊM INSULIN:

Làm sạch nút cao su.

Lăn lọ thuốc giữa lòng bàn tay đảm bảo rằng không có tạp chất lơ lửng. DIAMISU-N và DIAMISU-70+30 là chất lỏng màu trắng, đục đồng nhất.

Rút vào, ống tiêm một lượng không khí bằng với lượng insulin cần tiêm.

Đẩy không khí trong ống tiêm vào lọ.

Lật ngưực lọ và syring xuống và rút chính xác liều Insulin vào syring. Rút kim ra và đẩy không khí ra khỏi ống tiêm và kiểm tra lại liều.

Tiêm ngay lập tức. Không được sử dụng nếu chất Insulin (nguyên liệu màu trắng) còn lại ở đáy lọ sau khi trộn. Không được sử dụng nếu có sự thay đổi sau khi trộn Insulin. Không sử dụng nếu những hạt rắn màu trắng dính vào đáy hoặc thành chai, làm cho lọ mờ đi. Nên thay đổi vị trí tiêm trong vùng giải phẫu để tránh loạn dưỡng mỡ. Trong vòng 30 phút sau khi tiêm nên ăn nhẹ thức ăn có chứa carbohydrate

CÁCH DÙNG:

Kẹp da giữa 2 ngón tay, đẩy kim vào lớp da gấp và tiêm insulin dưới da.

Giữ kim dưới da trong ít nhất 6 giây để làm chắc tất cả insulin đặ được tiêm.

Nếu có máu sau khi rút kim, dùng ngón tay ấn nhẹ vào vị trí tiêm. Không được tái sử dụng kim tiếm, Vứt bỏ kim tiêm theo quy định

Liều dùng:

Liều dùng cho bệnh nhân phải do thầy thuốc quyết định vì tùy theo nhu cầu của từng bệnh nhân.

Liều nên được điều chỉnh theo kết quả kiểm tra đều đặn nồng độ glucose máu.

Tổng liều vượt quá khoảng 80 đơn vị mỗi ngày là bất thường và có thể nghĩ đến kháng insulin.

Liều yêu cầu trung bình hàng ngày cho liệu pháp đái tháo đường khoảng 0,5 va 0,1 đơn vị/ kg, tuỳ thuộc vào từng bệnh nhân.

Trong quá trình trị liệu insulin nên kiểm soát sự chuyển hoá, kể cả theo dõi nồng độ glucose.

Bệnh nhân lớn tuổi, mục tiều đầu tiên củạ điều trị có thể làm giảm triệu chứng và tránh hạ đường huyết.

DIAMISU-70+30, thường được dùng 1 hoặc 2 lần mỗi ngày, khi, được yêu cầu tác dụng ban đầu nhanh chóng và kéo dài thì tốt hơn nên tiêm trước bữa ăn.

Nên theo dõi bệnh nhân khi tiêm Insulin. Không nên xoa nắn chỗ chích thuốc. Nên hướng dẫn cho bệnh nhân để kỹ thuật tiêm được đúng hơn.

DIAMISU-R dùng 1-4 lần mỗi ngày, trước bữa ăn và có thể trước lúc ngủ

DIAMISU-R nên được dùng 30-45 phút trước bữa ăn. Cũng có thể trộn chung trong một ống tiêm với DIAMISU-N, và trong những trường hợp này, DIAMISU-R được rút trước DIAMISU-R nên được tiêm dưới da, mặc dù khống khuyến cáo nhưng có thể tiêm bắp, cũng, có thể dùng tiêm tĩnh mạch.

DIAMISU-R tiêm dưới da ở bắp hoặc thành bụng. Để thuận tiên, nên tiêm vùng cơ mông hoặc cơ delta.

DIAMISU-N tiêm dươi da, ở bắp hoạc thành bụng. Tốt nhất là trước bữa ăn, 1 hoặc 2 lần mỗi ngày, tuỳ thuộc vào yêu cầu mỗi bệnh nhân. Để thuận tiên, nên tiem vùng cơ mông hoặc cơ delta. DIAMISU-N không được tiêm tĩnh mạch.

4.3. Chống chỉ định:

Insulin chống chỉ định trong những trường hợp sau:

Bệnh nhân quá mẫn cảm với bất cứ thành phần nào của thuốc.

Bệnh nhân bị hạ đường huyết.

Bệnh nhân bị hôn mê do tăng đường huyết.

Trừ DIAMISU-R ra, dù cho công thức giống DIAMISU, cũng không nên tiêm tĩnh mạch

4.4 Thận trọng:

Nhu cầu Insulin có thể thay đổi rõ rệt ở bệnh nhân bị bệnh thượng thận, tuyến giáp, suy gan hoặc suy thận. Theo dõi liệu pháp Insulin, phan ứng tại chỗ, quá mẫn cảm có thể gây mày đay, phù mạch và rất hiếm khi quá mẫn.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Cần thận trọng khi sử dụng cho các đối tượng lái xe và vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: NA

US FDA pregnancy category: NA

Thời kỳ mang thai:

Là thuốc thiết yếu để duy trì kiểm soát tốt Insulin (insulin phụ thuộc hoặc đái tháo đường do thai kỳ)

Thời kỳ cho con bú

Không có sự hạn chế điều trị Insulin khi điều trị trong thời kỳ cho con bú, không có nguy cơ trên trẻ em. Tuy nhiên, nhu cầu về Insulin của người mẹ có thể giảm xuống

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Giảm glucose huyết, bệnh nhân có thể lạnh, mồ hôi, da xanh lạnh, bồn chồn hoặc run, cảm giác lo âu, mệt mỏi bất thường, hoặc yếu, hỗn loạn, khó tập trụng, nhức đầu, buồn nôn va hồi hộp, tăng cân, phù và khúc xạ không bình thường có thể xảy ra khi bắt đầu liệu pháp Insulin, phản ứng quá mẫn cảm (đỏ, sưng lên và ngứa ờ vị trí tiêm, là những phản ứng tạm thời, mà có thể xảy ra trong điều trị với Insulin và biến mất trong quá trình điều trị tiếp tục.

Loạn dưỡng mỡ ở vị trí tiêm.

Có thể gây phát ban, ngứa, đổ mồ hôi, tiêu hoá, khó chịu, bênh thần kinh mạch, phù, khó thở, đánh trống ngực, hạ huyết áp.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Các phản ứng dị ứng tại chỗ có thể xảy với bất cứ loại insulin nào và có thể xảy ra trong vòng 1- 3 tuần sau khi bắt đầu điều trị. Các phản ứng tại chỗ thường tương đối nhẹ và thường hết trong vài ngày hoặc tuần. Kỹ thuật tiêm kém cũng góp phần vào phản ứng tại chỗ. Biểu hiện mẫn cảm tức thì thường xảy ra trong vòng 30 – 120 phút sau khi tiêm, có thể kéo dài trong vài giờ hoặc ngày và thường tự hết. Dị ứng insulin thực sự hiếm có, biểu hiện bằng nổi mày đay toàn thân, nốt phỏng, khó thở, thở khò khè (wheezing), hạ huyết áp, tim đập nhanh, vã mồ hôi, phù mạch và phản vệ. Các phản ứng này chủ yếu xảy ra khi dùng insulin ngắt quãng hoặc ở người có kháng thể kháng insulin tăng trong máu. Nhiều trường hợp nặng đòi hỏi phải sẵn sàng cấp cứu. Người bệnh nào đã có phản ứng dị ứng nặng phải được làm test da trước khi dùng bất cứ thuốc insulin mới nào. Có thể giải mẫn cảm cho người bệnh có tiềm năng dị ứng. Vì thường hay bị dị ứng với insulin bò hoặc lợn, hoặc protamin, hoặc protein, có thể ngăn chặn các phản ứng dị ứng về sau bằng cách thay thế một insulin chứa ít protein (như các insulin tinh chế bao gồm insulin người) hoặc không chứa protamin.

Nếu có hiệu ứng Somogyi, giảm liều buổi chiều insulin tác dụng trung gian hoặc tăng bữa phụ tối. Nếu có hiện tượng bình minh, tăng liều buổi tối insulin tác dụng trung gian và/hoặc tiêm muộn (như tiêm vào lúc đi ngủ, không tiêm vào bữa chiều).

ADR phổ biến nhất của insulin là hạ glucose huyết và có thể cả hạ kali huyết. Đặc biệt chú ý đến người có nguy cơ cao như đói, có đáp ứng kém chống lại hạ glucose huyết (như người bệnh có bệnh thần kinh thực vật, suy tuyến yên hoặc thượng thận, người dùng thuốc chẹn beta) hoặc người dùng thuốc giảm kali. Nồng độ glucose và kali huyết phải được theo dõi sát khi insulin được truyền tĩnh mạch. Thay đổi nhanh nồng độ glucose huyết có thể thúc đấy biểu hiện hạ glucose huyết bất luận nồng độ glucose huyết là bao nhiêu. Có thể giảm nguy cơ tiềm ấn hạ glucose huyết muộn sau ăn do insulin tác dụng nhanh bằng thay đổi giờ ăn, số lần ăn, lượng ăn, thay đổi tập luyện, giám sát thường xuyên glucose huyết, điều chỉnh liều insulin và/hoặc chuyển sang insulin tác dụng nhanh hơn (như insulin lispro, insulin glulisin). Hạ glucose huyết nặng và thường xuyên xảy ra là một chỉ định tuyệt đối thay đổi phác đồ điều trị. Người đái tháo đường trước khi lái xe, phải kiểm tra glucose huyết và phải có biện pháp tránh hạ glucose huyết (nguồn cung cấp glucose) trên xe.

Xử lý hạ glucose huyết: Đối với hạ glucose nhẹ, tốt nhất là cho qua miệng 10 – 20 g glucose, hoặc bất cứ thức ăn dạng carbohydrat chứa glucose như nước cam hoặc nước quả, đường, đường phèn… Liều lượng có thể lặp lại 15 phút sau nếu glucose huyết vẫn dưới 70 mg/dl (tự đo) hoặc vẫn còn triệu chứng của hạ glucose huyết. Một khi glucose huyết trở lại bình thường, nên ăn một bữa nếu gần đến giờ ăn hoặc ăn một bữa phụ.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Các thuốc ức chế beta, những thuốc hạ đường huyết bằng đường uống, octreotid, ức chế mono-amine oxidase, thuốc ức chế beta không chọn lọc, ức chế ACE, salicylate, alcohol và alcohol steroid, thuốc ngừa thai bằng đường uống, thiazide, glucocorticoid, hormone thyroid và tiết adrenalin, danazol

4.9 Quá liều và xử trí:

Hậu quả chính của quá liều là hạ glucose huyết với các triệu chứng nhược cơ, cảm giác đói, vã mồ hôi toàn thân, nhức đầu, run, rối loạn thị giác, dễ bị kích thích, lú lẫn và rồi hôn mê do hạ đường huyết. Các yếu tố thuận lợi làm xuất hiện hạ đường huyết là rượu, đói, hoạt động thể lực quá mức so với thường ngày, nhầm liều, do tiêm bắp, đổi dùng từ dạng insulin hòa tan thông thường sang loại insulin đơn loại tinh khiết cao hay do tương tác thuốc.

Xử trí: Hạ glucose huyết nhẹ (vã mồ hôi, nhợt nhạt, đánh trống ngực, run, nhức đầu, thay đổi hành vi) có thể cho ăn thức ăn chứa carbohydrat (bánh ngọt, viên đường, kẹo) hoặc uống (nước ép quả, cam). Hạ glucose huyết nặng (hôn mê, co giật) đòi hỏi phải điều trị bằng glucagon hoặc dung dịch glucose tĩnh mạch. Hạ glucose huyết nặng do insulin ít xảy ra nhưng là một cấp cứu nội khoa đòi hỏi phải điều trị ngay. Người lớn hạ glucose huyết nặng (như li bì, đau đầu, lú lẫn, vã mồ hôi, vật vã, co giật) hoặc hôn mê do quá liều insulin và có đủ dự trữ glycogen ở gan, phải cho tiêm dưới da, tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch 1 đv (1 mg) glucagon; người bệnh phải có sẵn một lọ glucagon trong gia đình để tiêm trong trường hợp cấp cứu. Nếu người bệnh không đáp ứng hoặc không có glucagon, phải cho khoảng 10 – 25 g glucose dưới dạng dung dịch glucose tiêm tĩnh mạch 50%, 20 – 50 ml. Trong trường hợp nặng (cố ý quá liều), có thể cần glucose tĩnh mạch liều cao hơn hoặc lặp lại nhiều lần. Tiếp tục truyền glucose tĩnh mạch liên tục 5 – 10 g/giờ để duy trì nồng độ glucose huyết thỏa đáng cho tới khi người bệnh tỉnh và ăn được. Phải giám sát chặt người bệnh vì hạ glucose huyết có thể trở lại. Để phòng phản ứng hạ glucose huyết, phải cho ăn ngay carbohydrat khi người bệnh tỉnh.

Ớ trẻ em và thiếu niên bị hạ glucose huyết nặng, glucagon với liều 30 microgam/kg tiêm dưới da, tối đa 1 mg (1 đơn vị) làm tăng nồng độ glucose huyết trong 5 – 10 phút nhưng có thể gây nôn hoặc buồn nôn. Cho glucagon liều thấp hơn (10 microgam/kg) ít gây buồn nôn nhưng tăng glucose huyết ít hơn.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Trình tự Acid amin của Insulin người như sau:

Insulin tác động ngắn – Insulin Regular

Insulin tác động trung bình – Insulin N

Insulin Phối hợp – Insulin Mix dùng 2 lần trong ngày

Cơ chế tác dụng:

Insulin điều hòa đường huyết tại các mô đích chủ yếu là gan, cơ và mỡ. Insulin là hormon chủ yếu kiểm tra sự thu hồi, sử dụng và dự trữ các chất dinh dưỡng cho tế bào. Insulin kích thích các quá trình đồng hóa của tế bào (sử dụng v à dự trữ glucose, acid amin, acid béo), đồng thời ức chế các quá trình dị hóa (phân huỷ glycogen, mỡ và protein). Tác dụng chung là kích thích vận chuyển các cơ chất và ion vào trong tế bào, hoạt hóa và bất hoạt các enzym đặc hiệu.

Glucose nhập vào tế bào bằng sự khuếch tán thuận lợi nhờ vào các chất vận chuyển glucose (glucose transporters- GLUT):

GLUT 1 có ở mọi mô, đặc biệt là hồng cầu và não.

GLUT 2 có ở tế bào β của tụy, ở gan, thận, ruột GLUT 3 có ở não, thận, rau thai.

GLUT 4 có ở cơ và mô mỡ.

GLUT 5 có ở ruột và thận

Glucose được sử dụng là nhờ vào hệ thống enzym hexokinase để chuyển thành glucose – 6- phosphat (GGP). Sau đó G6P sẽ chuyển thành glycogen để dự trữ hoặc bị oxy hóa để cung cấp năng lượng cho mô. Hexokinase IV là một glucokinase được thấy k ết hợp với GLUT 2 trong gan và tế bào β của tụy; hexokinase II lại được thấy kết hợp với GLUT 4 trong tế bào cơ vân, cơ tim và mô mỡ. Cả 2 hexokinase này đều được điều hòa bởi insulin ngay ở mức phiên mã di truyền.

Tác dụng của insulin tại gan

Ức chế hủy glycogen (ức chế phosphorylase)

Ức chế chuyển acid béo và acid amin thành keto acid

Ức chế chuyển acid amin thành glucose

Thúc đẩy dự trữ glucose dưới dạng glycogen (gây cảm ứng glucokinase và glycogen synthetase)

Làm tăng tổng hợp triglycerid và VLDL.

Tác dụng của insulin tại cơ vân

Làm tăng tổng hợp protein, tăng nhập acid amin vào tế bào

Làm tăng tổng hợp glycogen, tăng nhập glucose vào tế bào

Tác dụng của insulin tại mô mỡ

Làm tăng dự trữ triglycerid và làm giả m acid béo tự do trong tuần hoàn theo 3 cơ chế:

Gây cảm ứng lipoproteinlipase tuần hoàn nên làm tăng thuỷ phân triglycerid từ lipoprotein tuần hoàn.

Este hóa các acid béo từ thuỷ phân lipoprotein

Ức chế trực tiếp lipase trong tế bào nên làm giảm lipo lyse của triglycerid dự trữ.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Sơ lược dược động học của insulin người và insulin đồng dạng

Thời gian tác động tương đối của các dạng insulin khác nhau

Thời gian tác động sẽ thay đổi trên những bệnh nhân khác nhau và kể cả trên cùng một bệnh nhân.

Tác động của các dạng Insulin như sau:

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

….

6.2. Tương kỵ :

Pha lẫn insulin: Insulin thường (người) (regular insulin, human insulin) có thể pha với các chế phấm insulin khác có pH xấp xỉ trung tính (như insulin người isophan [NPH]). Insulin người khi pha với bất cứ chế phấm insulin nào cũng phải hút đầu tiên vào bơm tiêm để tránh truyền chế phấm insulin biến đổi sang lọ insulin người (thường). Khi insulin người pha lẫn vào insulin NPH, insulin người được gắn thêm in vitro vì thừa protamin trong chế phấm NPH. Sự gắn insulin người (thường) vào insulin NPH xảy ra nhanh và rõ in vitro trong vòng 5 – 15 phút sau khi pha lẫn. Nhưng thay đổi hóa học đó không có ý nghĩa lâm sàng, vì thời gian bắt đâu và kéo dài tác dụng của hỗn hợp tương tự như khi tiêm riêng rẽ.

Hỗn hợp chứa insulin người và insulin NPH ổn định ít nhất 1 tháng khi bảo quản ở nhiệt độ phòng hoặc 3 tháng khi bảo quản ở nhiệt độ 2 – 8 °C; tuy nhiên, phải chú ý đến nhiễm khuấn. Hiện nay trên thị trường có các phối hợp sẵn chứa 30 đv/ml dung dịch tiêm insulin người và 70 đv/ml hỗn dịch insulin người isophan (NPH) (Humulin 70/30, Novolin 70/30); 25 đv/ml insulin lispro và 75 đv/ml hỗn dịch insulin lispro protamin (Humalog mix 75/25); 30 đv/ml insulin aspart và 70 đv/ml insulin aspart protamin (Novolog mix 70/30); 50 đv/ml insulin lispro và 50 đv/ml insulin lispro protamin (Humalog 50/50); 50 đv/ml dung dịch tiêm insulin người và 50 đv/ml hỗn dịch insulin người isophan (NPH).

Insulin thường (người) có thể pha với bất cứ tỷ lệ nào với nước để tiêm, dung dịch natri clorid 0,9% để tiêm, dùng cho bơm truyền dưới da. Nhưng dịch pha loãng phải dùng trong vòng 24 giờ sau khi pha, vì pH thay đổi và chất đệm pha loãng có thể tác động đến độ ổn định. Insulin thường (người) có thể tạo ra các tinh thể trên ống truyền của bơm tiêm.

Insulin thường (người) khi thêm vào một dung dịch truyền tĩnh mạch có thể dẫn đến hấp phụ insulin vào bình chứa hoặc dây truyền. Lượng insulin của liều bị mất do hấp phụ vào hệ thống truyền thay đổi nhiều, phụ thuộc vào nồng độ insulin, typ và diện tích bề mặt của hệ thống truyền, thời gian tiếp xúc và tốc độ truyền. Cho thêm insulin vào dung dịch có thể bão hòa các vị trí gắn ở hệ thống truyền. Một cách khác, dung dịch insulin có thể cho trực tiếp vào tĩnh mạch hoặc vào ống truyền với lượng mất do hấp phụ không đáng kể. Hấp phụ insulin giảm khi có mặt protein điện tích âm, như albumin huyết thanh bình thường.

Insulin aspart, insulin glulisin, insulin lispro. Khi pha lẫn một insulin tác dụng nhanh với một insulin tác dụng dài hơn (như insulin người isophan [NPH]), bắt đầu tác dụng nhanh của insulin tác dụng nhanh (như insulin lispro, insulin aspart) không thay đổi, do đó các insulin này có thể pha lẫn. Tốc độ hấp thu giảm nhẹ nhưng không giảm toàn bộ sinh khả dụng khi pha lẫn insulin tác dụng nhanh với insulin người isophan (NPH). Kiểm soát glucose huyết sau bữa ăn tương tự khi một insulin tác dụng nhanh pha với insulin người isophan hoặc insulin kẽm người tác dụng kéo dài (extended insulin human zinc). Insulin lispro pha lẫn với các insulin khác có thể làm thay đổi đặc tính lý hóa (ngay tức khắc hoặc sau một thời gian) làm thay đổi đáp ứng sinh lý đối với insulin. Tính tương hợp của dung dịch tiêm insulin lispro với các thuốc khác phụ thuộc vào nhiều yếu tố (như pH dung dịch, nồng độ các thuốc, dung môi được dùng, nhiệt độ, pH cuối cùng). Để tiện, insulin lispro đã được tiêm với một insulin tác dụng dài hơn trong cùng một bơm tiêm. Insulin lispro (Humalog) khi pha lẫn với insulin người isophan (NPH) phải tiêm ngay trong vòng 5 phút sau khi pha. Hỗn hợp không được tiêm tĩnh mạch. Khi insulin lispro cho qua bơm truyền dưới da, thuốc không được pha loãng hoặc pha lẫn với bất kỳ insulin nào khác.

Insulin aspart hoặc insulin glulisin có thể pha lẫn với insulin người isophan (NPH) tuy có giảm đôi chút nồng độ đỉnh insulin aspart hoặc insulin glulisin, nhưng thời gian đạt nồng độ đỉnh và toàn bộ sinh khả dụng của insulin aspart không bị ảnh hưởng nhiều.

Khi insulin aspart, insulin lispro, insulin glulisin được dùng cho bơm truyền dưới da thuốc không được pha loãng hoặc pha lẫn với bất kỳ insulin nào. Bơm truyền hoạt động không tốt hoặc insulin bị giáng hóa có thể dẫn đến tăng glucose huyết hoặc tích ceton trong cơ thể trong một thời gian ngắn. Bất cứ khi nào insulin lispro pha lẫn với một insulin tác dụng dài hơn cũng phải hút insulin lispro vào bơm tiêm đầu tiên để tránh kết tủa hoặc vấn đục.

6.3. Bảo quản:

Thuốc nên được bảo quản nơi mát ( 2-8°C). Tránh đông lạnh

Tránh nơi quá nóng, ánh sáng mặt trời. Khi đang dùng có thể để nhiệt độ phòng được đến 6 tuần.

Không được sử dụng quá thời gian này. Lăn kỹ trong lòng bàn tay trước khi sử dụng.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM