Fentanyl – Fentanyl Warsaw

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Fentanyl

Phân loại: Thuốc giảm đau nhóm opioid.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N01AH01, N02AB03.

Biệt dược gốc: Durogesic

Biệt dược: Fentanyl

Hãng sản xuất : Warsaw Pharmaceutical Works Polfa S.A.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch tiêm 50mcg/ml

Thuốc tham khảo:

FENTANYL
Mỗi ml dung dịch có chứa:
Fentanyl …………………………. 50mcg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Fentanyl là thuốc giảm đau opioid được sử dụng trong các trường hợp sau :

Sử dụng liều thấp để giảm đau trong các quá trình phẫu thuật ngắn,

Sử dụng liều cao để giảm đau hoặc ức chế hô hấp ở các bệnh nhân đòi hỏi phải thở máy,

Sử dụng kết hợp với thuốc an thần như một phần của phương pháp giảm đau an thần,

Điều trị đau nặng, như đau do nhồi máu cơ tim

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Fentanyl chỉ được dùng trong bệnh viện với đầy đủ trang thiết bị y tế nhằm đảm bảo có thể kiểm soát và hỗ trợ chức năng hô hấp cho bệnh nhân, và chỉ được sử dụng bởi các chuyển gia có kinh nghiệm trong việc đảm bảo duy trì đường thở thông thoáng và thực hiện hỗ trợ thở máy cho bệnh nhân (xem mục “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”).

Fentanyl có thể sử dụng như sau:

Tiêm bắp

Tiêm truyền tĩnh mạch – tiêm bolus, tiêm truyền tĩnh mạch liên tục hoặc sử dụng cho bệnh nhân theo phương pháp kiểm soát đau (PCA);

Cách pha loãng thuốc trước khi dùng

Fentanyl có thể được pha với dung dịch NaCl 0,9% hoặc dung dịch glucose 5%.

Nếu cần thiết, dung dịch sau khi pha có thể được bảo quản (bác sỹ cho bệnh nhân dùng thuốc tự chịu trách nhiệm) trong tối đa 24 giờ ở nhiệt độ dưới 25°C, với giả định rằng dung dịch được pha trong điều kiện vô trùng được kiểm soát và đã được thẩm định. Dung dịch không dùng sau 24 giờ phải bỏ đi.

Không trộn Fentanyl với thiopental và methohexital do tương kỵ hóa học gây ra bởi sự khác nhau lớn về pH giữa các dung dịch.

Liều dùng:

Sử dụng đường tĩnh mạch – tiêm bolus hoăc tiêm truyền tĩnh mạch

Tiêm bắp

Fentanyl có thể được dùng cho người lớn và trẻ em theo đường tĩnh mạch.

Liều dùng fentanyl được xác định cho từng đối tượng, tùy thuộc vào tuổi, cân nặng, tình trạng thể chất, các bệnh lý mắc đồng thời, các thuốc khác dùng đồng thời, loại phẫu thuật và loại gây mê.

Người lớn

Liều thông thường ở người lớn:

Liều khởi đầu Liều bổ sung
Thở bình thường 50 đến 200 mcg 50 mcg
Thở máy 300 đến 3500 mcg 100 đến 200 mcg

Liều lớn hơn 200 mcg chỉ được sử dụng trong gây mê.

Trong tiền mê, 1 đến 2 ml (50 mcg đến 100 mcg) fentanyl có thể được tiêm bắp 45 phút trước khi tiến hành gây mê.

Tiêm tĩnh mạch 2 ml (100 mcg) fentanyl cho những bệnh nhân trưởng thành không được tiền mê có thể đạt được tác dụng giảm đau đủ trong 10-20 phút trong các phẫu thuật đòi hỏi giảm đau ở mức độ thấp.

Tiêm bolus 10 ml (500 mcg) fentanyl có thể giảm đau trong khoảng 1 giờ. Tác dụng giảm đau này đủ cho phẫu thuật đòi hỏi giảm đau ở mức độ trung bình.

Liều 50 mcg/kg có thể giảm đau trong 4 đến 6 giờ cho phẫu thuật liên quan đến đau nặng. Fentanyl cũng có thể được dùng theo đường truyền tĩnh mạch.

Bệnh nhân thở máy có thể sử dụng liều khởi đầu bằng tiêm truyền nhanh xấp xỉ 1 mcg/kg/phút trong 10 phút đầu tiên, sau đó tiêm truyền tốc độ xấp xỉ 0,1 mcg/kg/phút.

Ngoài ra liều khởi đầu cũng có thể tiêm bolus tĩnh mạch.

Tốc độ truyền được điều chỉnh tùy theo đáp ứng của bệnh nhân với fentanyl. Nên dùng liều fentanyl thấp nhất có thể.

Nên dừng truyền khoảng 40 phút trước khi kết thúc phẫu thuật, nếu không thì cần hỗ trợ thở máy sau phẫu thuật.

Liều fentanyl thấp hơn, như 0,05 đến 0,08 mcg/kg/phút, được sử dụng nếu thở máy được duy trì. Liều cao hơn (lên tới 3 mcg/kg/phút) được sử dụng trong phẫu thuật tim.

Do sự khác biệt lớn về pH, fentanyl tương kỵ hóa học với các thuốc gây mê như thiopental và methohexital.

Bệnh nhân nhi

Trẻ em từ 12 đến 17 tuổi: dùng liều cho người lớn.

Trẻ em từ 2 đến 17 tuổi : dùng liều thông thường cho trẻ em như sau:

Tuổi

Tuổi

Liều khởi đầu Liều bổ sung
Thở bình thường 2-11 tuổi 1 đến 3 mcg/kg 1 đến 1,25 mcg/kg
Thở máy 2-11 tuổi 1 đến 3 mcg/kg 1 đến 1,25 mcg/kg

Sử dụng ở trẻ em

Giảm đau trong phẫu thuật, tăng cường mê với thở bình thường.

Các kỹ thuật giảm đau ở trẻ em tự thở được chỉ được sử dụng như là một phần của kỹ thuật gây mê hoặc kỹ thuật an thần/giảm đau, được thực hiện bởi cán bộ y tế có kinh nghiệm tại nơi có thể thực hiện đặt ông nội khí quản nêu xảy ra tình trạng cứng thành ngực, hoặc cung câp oxy nếu xuất hiện ngừng thở (xem mục “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”).

Sử dụng ở bệnh nhân già và suy nhược

Nên giảm liều khởi đầu của fentanyl ở nhóm bệnh nhân này. Trong khi dùng liều khởi đầu, cần theo dõi đáp ứng của bệnh nhân, nếu cần có thể điều chỉnh liều bổ sung.

Bệnh nhân suy thận

Ở bệnh nhân suy thận, nên xem xét giảm liều dùng fentanyl, và bệnh nhân cần phải được theo dõi chặt chẽ để kịp thời phát hiện các dấu hiệu ngộ độc fentanyl nếu có.

Bệnh nhân béo phì

Bệnh nhân béo phì có nguy cơ gặp phải tình trạng quá liều thuốc, do liều dùng được tính theo cân nặng cơ thể. Các bệnh nhân béo phì nên sử dụng liều tính theo khối lượng nạc ước tính của cơ thể (lean body mass).

Sử dụng ở bệnh nhân già và suy nhược

Khuyến cáo giảm liều cho các bệnh nhân này. Trong khi dùng liều khởi đầu, cần xem xét đáp ứng của bệnh nhân, nếu cần có thể điều chỉnh liều bổ sung

4.3. Chống chỉ định:

Suy hô hấp (ngoại trừ các trường hợp liệt kê ở mục “Chỉ định”).

Bệnh phổi tắc nghẽn.

Không sử dụng fentanyl đồng thời với các thuốc ức chế monoamin oxidase (MAOI).

Không sử dụng fentanyl trong vòng 2 tuần sau khi kết thúc điều trị với các thuốc ức chế monoamin oxidase (MAOI).

Mẫn cảm với fentanyl hoặc các thuốc có cấu trúc hóa học tương tự, hoặc mẫn cảm với bất cứ thành phần nào của thuốc.

4.4 Thận trọng:

Nghiện thuốc, lạm dụng thuốc và sử dụng thuốc sai mục đích

Là một thuốc opioid, người dùng fentanyl có thể có nguy cơ bị nghiện thuốc, lạm dụng thuốc và sử dụng thuốc sai mục đích. Các thuốc opioid luôn được các đối tượng nghiện ma túy và các đối tượng rối loạn nghiện thuốc tìm kiếm, và có thể bị chuyển hướng điều tra hình sự. cần phải xem xét các nguy cơ rủi ro này khi vận chuyển và sử dụng fentanyl. Chiến lược để giảm thiểu những nguy cơ rủi ro này bao gồm bảo quản thuốc tại nơi riêng biệt và tiến hành kiểm soát chặt chẽ.

Suy hô hấp đe dọa đến tính mạng

Tình trạng suy hô hấp nghiêm trọng, đe dọa đến tính mạng, hoặc dẫn đến tử vong đã được báo cáo ở những người có sử dụng thuốc opioid, thậm chí sử dụng thuốc ở liều khuyến cáo. Suy hô hấp, nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời, có thể dẫn đến ngừng hô hấp và tử vong. Các trang thiết bị hỗ trợ phải được chuẩn bị đầy đủ và sẵn sàng để theo dõi hậu phẫu và thực hiện thở máy cho bệnh nhân sử dụng fentanyl với liều gây mê. Điều quan trọng là các trang thiết bị này phải được trang bị đầy đủ để xử lý tất cả các mức độ của suy hô hấp. Kiểm soát tình trạng suy hô hấp có thể bao gồm theo dõi chặt chẽ, sử dụng các biện pháp hỗ trợ, và sử dụng các thuốc đối kháng opioid, tùy thuộc và tình trạng lâm sàng của bệnh nhân. Sự lưu giữ CO2 do suy hô hấp gây ra bởi opioid có thể làm mạnh thêm tác dụng an thần của thuốc opioid.

Đề giảm nguy cơ gặp phải tình trạng suy hô hấp, việc xác định liều và điều chỉnh liều fentanyl thích hợp là rất cần thiết. Cũng như các opioid mạnh khác, tác dụng gây suy hô hấp của fentanyl có thể kéo dài lâu hơn so với tác dụng giảm đau. Tổng liều của tất cả các thuốc opioid đã được sử dụng phải được cán bộ y tế xem xét cân nhắc trước khi quyết định sử dụng thuốc opioid để giảm đau trong quá trình hồi phục sau gây mê.

Bệnh nhân đang mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh tim do phổi (cor pulmonale), những người có dự trữ hô hấp giảm đáng kể, giảm oxy huyết, tăng anhydrid-carbonic huyết (hypercapnia), hoặc những người đã từng bị suy hô hấp, khi sử dụng fentanyl sẽ có nguy cơ cao hơn bị suy hô hấp bao gồm ngừng thở, kể cả khi sử dụng fentanyl ở liều khuyến cáo. Bệnh nhân cao tuổi, bệnh nhân suy yếu hoặc suy nhược có thể có các đặc tính dược lực học thay đổi, hoặc thay đổi độ thanh thải so với bệnh nhân trẻ tuổi và bệnh nhân khỏe mạnh, dẫn đến có nguy cơ cao hơn bị suy hô hấp khi sử dụng thuốc này.

Cần phải theo dõi các đối tượng bệnh nhân này một cách chặt chẽ, bao gồm theo dõi các dấu hiệu sống còn, đặc biệt là khi bắt đầu sử dụng fentanyl, khi điều chỉnh liều fentanyl sử dụng, và khi sử dụng fentanyl đồng thời với các thuốc khác có thể gây suy hô hấp.

Nguy cơ khi sử dung đồng thời hoặc khi ngừng sử dụng các thuốc ức chế và thuốc gây cảm ứng cytochrome P45Q 3A4

Việc sử dụng đồng thời fentanyl với các thuốc ức chế CYP3A4, như kháng sinh nhóm macrolid (như erythromycin), thuốc kháng nấm nhóm azol (như ketoconazol), và các chất ức chế protease (như ritonavir), có thể làm tăng nồng độ fentanyl trong huyết tương, và do đó làm kéo dài các tác dụng bất lợi của thuốc opioid, có thể làm trầm trọng thêm tình trạng suy hô hấp, đặc biệt khi thuốc ức chế CYP3A4 được sử dụng sau khi bệnh nhân đã đạt được liều fentanyl ổn định. Tương tự như vậy, việc ngừng sử dụng các thuốc gây cảm ứng CYP3A4 như rifampin, Carbamazepin và phenytoin, ở bệnh nhân đang điều trị bằng fentanyl có thể làm tăng nồng độ fentanyl trong huyết tương, và do đó làm kéo dài các tác dụng bất lợi của thuốc opioid. Khi sử dụng fentanyl đồng thời với các thuốc ức chế CYP3A4, hoặc khi ngừng sử dụng thuốc gây cảm ứng CYP3A4 trên bệnh nhân đang điều trị bằng fentanyl, bệnh nhân cần phải được theo dõi chặt chẽ và thường xuyên sau những khoảng thời gian nhất định, có thể xem xét giảm liều fentanyl nếu cần thiết.

Việc sử dụng đồng thời fentanyl với các thuốc gây cảm ứng CYP3A4, hoặc ngừng sử dụng thuốc ức chế CYP3A4 trên bệnh nhân đang điều trị bằng fentanyl, có thể làm giảm nồng độ fentanyl trong huyết tương, và làm giảm hiệu quả điều trị. Khi sử dụng fentanyl đồng thời với các thuốc gây cảm ứng CYP3A4, hoặc khi ngừng sử dụng thuốc ức chế CYP3A4 trên bệnh nhân đang điều trị bằng fentanyl, bệnh nhân cần phải được theo dõi chặt chẽ và thường xuyên sau những khoảng thời gian nhất định, có thể xem xét tăng liều fentanyl nếu cần thiết.

Nguy cơ khi sử dung dồng thời với benzodiazepin hoăc các thuốc gây ức chế thần kinh trung ương khác

Khi sử dụng đồng thời fentanyl với benzodiazepin hoặc các thuốc gây ức chế thần kinh trung ương khác, áp lực động mạch phổi có thể giảm, cần xem xét điều này đối với những trường hợp tiến hành các thủ thuật chẩn đoán và phẫu thuật, khi mà phép đo áp lực động mạch phổi có thể quyết định đến sự quản lý điều trị cuối cùng của bệnh nhân. Khi liều cao fentanyl hoặc liều gây mê fentanyl được sử dụng, ngay cả một liều diazepam tương đối nhỏ cũng có thể gây suy tim mạch.

Khi sử dụng đồng thời fentanyl với các thuốc gây ức chế thần kinh trung ương (CNS), có thể xảy ra tình trạng hạ huyết áp. Nếu gặp phải tình trạng này, cần xem xét đến khả năng bệnh nhân bị giảm thể tích tuần hoàn, và xử lý bằng cách bổ sung dịch truyền thích hợp. Nếu điều kiện phẫu thuật cho phép, có thể xem xét cho bệnh nhân đổi tư thế để tăng lưu lượng máu từ tĩnh mạch về tim. cần giám sát bệnh nhân trong quá trình di chuyển và đổi tư thế, vì bệnh nhân có khả năng bị hạ huyết áp tư thế đứng. Nếu việc bổ sung dịch truyền thích hợp cùng với các biện pháp xử trí khác không có tác dụng làm cải thiện tình trạng hạ huyết áp, cần xem xét đến việc sử dụng các thuốc gây tăng huyết áp, trừ epinephrin. Epinephrin có thể làm giảm huyết áp một cách bất thường ở những bệnh nhân được điêu trị bằng thuốc an thần ức chế a-adrenergic.

An thần sâu, suy hô hâp, hôn mê và tử vong có thể xảy ra khi sử dụng đồng thời fentanyl với benzodiazepin hoặc các thuốc gây ức chế thần kinh trung ương khác (ví dụ thuốc an thần/thuốc ngủ nonbenzodiazepin, thuốc làm giảm căng thẳng thần kinh, thuốc an thần, thuốc giãn cơ, thuốc gây mê toàn thân, thuốc chống loạn thần, các opioid khác, rượu). Nếu quyết định điều trị đau sau phẫu thuật bàng fentanyl sử dụng đồng thời với benzodiazepin hoặc ác thuốc gây ức chế thần kinh trung ương khác, nên sử dụng liều khởi đầu là liều dùng thấp nhất có hiệu quả điều trị, sau đó điều chỉnh liều tùy thuộc vào đáp ứng lâm sàng của bệnh nhân. Theo dõi bệnh nhân một cách chặt chẽ để kịp thời phát hiện các dấu hiệu và triệu chứng của suy hô hấp, an thần và hạ huyết áp. Bổ sung dịch truyền hoặc các biện pháp hỗ trợ khác để chống hạ huyết áp cần phải được chuẩn bị sẵn sàng.

Nguy cơ co cứng cơ và dịch chuyển cơ xương

Fentanyl có thể gây co cứng cơ, đặc biệt là các cơ hô hấp. Tỷ lệ mắc phải và mức độ nghiêm trọng của tình trạng co cứng cơ phụ thuộc vào liều dùng thuốc. Tác dụng này có liên quan đến liều dùng và tốc độ tiêm thuốc. Tình trạng co cứng cơ xương cũng đã được báo cáo là có xảy ra hoặc tái phát thường xuyên trong giai đoạn hậu phẫu kéo dài đối với bệnh nhân sau khi sử dụng fentanyl liều cao. Ngoài ra, hiện tượng dịch chuyển cơ xương tại các nhóm cơ xương khác nhau ở đầu chi, cổ, và phía bên ngoài mắt cũng đã được báo cáo trong quá trình gây mê bằng fentanyl. Trong một vài trường hợp hiếm gặp, những dịch chuyển cơ xương này là đủ lớn và đòi hỏi cần phải có những biện pháp xử lý cho bệnh nhân.

Các tác dụng này có liên quan đến liều dùng và tốc độ tiêm thuốc, tỷ lệ mắc phải các tác dụng này có thể được giảm xuống bằng cách: 1) sử dụng đến VA liều gây mất cảm giác (full paralyzing dose) của thuốc ức chế thần kinh cơ không khử cực ngay trước khi sử dụng fentanyl; 2) sử dụng một liều gây mất cảm giác của thuốc ức chế thần kinh cơ không khử cực sau khi bệnh nhân mất phản xạ lông mi, trong trường hợp sử dụng fentanyl ở liều gây mê qua đường truyền tĩnh mạch chậm; hoặc 3) sừ dụng đồng thời fentanyl với một liều gây mất cảm giác của thuốc ức chế thần kinh cơ không khử cực, trong trường hợp sử dụng nhanh fentanyl ở liều gây mê. Thuốc ức chế thần kinh cơ được sử dụng phải tương thích với tình trạng tim mạch của bệnh nhân.

Suy tim mạch nặng

Fentayl có thể gây chậm nhịp tim nghiêm trọng, hạ huyết áp nghiêm trọng, bao gồm hạ huyết áp tư thế đứng và bất tỉnh. Nguy cơ này tăng ở những bệnh nhân bị giảm khả năng duy trì huyết áp, do giảm thể tích máu hoặc do sử dụng đồng thời với một số thuốc gây ức chế thần kinh trung ương (ví dụ phenothiazin hoặc thuốc gây mê toàn thân), xem phần “Tương tác, tương kỵ của thuốc”. Ở những bệnh nhân bị sốc tuần hoàn, fentanyl có thể gây giãn mạch, làm giảm hơn nữa cung lượng tim và hạ huyết áp. Đối với những bệnh nhân này, sau khi sử dụng liều khởi đầu và điều chỉnh liều fentanyl, bệnh nhân cần phải được theo dõi để phát hiện kịp thời những dấu hiệu hạ huyết áp.

Hội chứng serotonin khi sử dụng đồng thời với các thuốc hệ serotonergic

Hội chứng serotonin, một tình trạng đe dọa tính mạng tiềm ẩn, đã được báo cáo khi sử dụng đồng thời fentanyl với các thuốc hệ serotonergic. Các thuốc tác động lên hệ serotonergic bao gồm: thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc (SSRIs), thuốc ức chế tái hấp thu serotonin-norepinephrin (SNRIs), thuốc chống trầm cảm ba vòng (TCAs), triptan, thuốc đối kháng thụ thể 5-HT3, thuốc tác động lên hệ thống dẫn truyền thần kinh hệ serotonergic (ví dụ mirtazapin, trazadon, tramadol), thuốc làm giảm chuyển hóa serotonin (bao gồm thuốc ức chế monoamin oxidase, sử dụng trong điều trị rối loạn tâm thần, và các thuốc khác như linezolid và xanh methylen tiêm tĩnh mạch). Điều này có thể xảy ra ngay cả khi sử dụng thuốc trong phạm vi liều khuyến cáo.

Các triệu chứng của hội chứng serotonin có thể bao gồm: thay đổi về trạng thái tâm thần (như kích động, ảo giác, hôn mê), mất ổn định tự chủ (như nhịp tim nhanh, huyết áp không ổn định, tăng thân nhiệt), rối loạn thần kinh cơ (như tăng phản xạ, mất phối hợp, co cứng cơ), và/hoặc các triệu chứng tiêu hóa (như buồn nôn, nôn, tiêu chảy). Các triệu chứng thường khởi phát trong vòng vài giờ hoặc hơn. Ngừng sử dụng fentanyl nếu nghi ngờ bệnh nhân gặp phải hội chứng serotonin.

Suy tuyến thượng thận

Tình trạng suy tuyến thượng thận đã được báo cáo ở những bệnh nhân sử dụng opioid, đặc biệt ở những bệnh nhân sử dụng thuốc trong thời gian dài hơn một tháng. Biểu hiện của tình trạng suy tuyến thượng thận có thể bao gồm các triệu chứng và dấu hiệu không điển hình như buồn nôn, nôn, chán ăn, mệt mỏi, suy yếu, chóng mặt và huyết áp thấp. Nếu có nghi ngờ suy tuyến thượng thận, cần phải tiến hành các xét nghiệm chẩn đoán xác định càng sớm càng tốt. Trong trường hợp bệnh nhân bị chẩn đoán suy tuyến thượng thận, cần điều trị bằng corticosteroid với liều thay thế nồng độ sinh lý. Ngừng sử dụng opioid để bệnh nhân có thể phục hồi chức năng tuyến thượng thận, và tiếp tục điều trị bằng corticosteroid cho đến khi chức năng tuyến thượng thận được hồi phục. Có thể thử sử dụng các opioid khác, do đã có báo cáo về một số trường hợp sử dụng opioid khác mà không bị suy tuyến thượng thận tái phát. Các dữ liệu có sẵn không xác định được opioid cụ thể nào có liên quan nhiều hơn đến tình trạng suy tuyến thượng thận.

Nguy cơ đối với bệnh nhân tăng áp lưc nôi so, u não và chấn thượng dầu Đối với những bệnh nhân dễ bị ảnh hưởng nội sọ bởi sự lưu giữ CO2 (ví dụ bệnh nhân tăng áp lực nội sọ, hoặc bệnh nhân u não), fentanyl có thể làm giảm hô hấp, dẫn đến tăng lưu giữ CO2, và do đó có thể làm tăng thêm áp lực nội sọ. Đối với các bệnh nhân này, cần theo dõi chặt chẽ để kịp thời phát hiện các dấu hiệu tăng áp lực nội sọ.

Nguy cơ đối với bệnh nhân có bệnh đường tiêu hóa

Fentanyl có thể gây co thắt cơ vòng Oddi. Các thuốc opioid có thể làm tăng amylase huyết thanh, cần theo dõi các bệnh nhân có bệnh đường mật, bao gồm viêm tụy cấp, do bệnh nhân có thể gặp phải các triệu chứng xấu hơn.

Tăng nguy cơ co giật ở bệnh nhân rối loạn co giật

Fentayl có thể làm tăng tần suất co giật ở những bệnh nhân bị rối loạn co giật, và có thể làm tăng nguy cơ co giật xảy ra trong các điều kiện lâm sàng khác liên quan đến co giật. Theo dõi các bệnh nhân có tiền sử rối loạn co giật trong quá trình điều trị bằng fentanyl, để có thể kiểm soát các cơn co giật nếu xảy ra.

Nguy cơ do tương tác với các thuốc an thần

Nhiều thuốc an thần có liên quan đến kéo dài khoảng QT, xoắn đỉnh và ngừng tim. Khi sử dụng các thuốc an thần cần hết sức thận trọng với các yếu tố nguy cơ cho sự phát triển của hội chứng QT kéo dài và xoắn đỉnh, như: 1) nhịp tim chậm đáng kể về mặt lâm sàng (dưới 50 bpm), 2) bất cứ bệnh lý lâm sàng đáng kể nào của tim, bao gồm kéo dài khoảng QT, 3) điều trị với các thuốc chống loạn nhịp loại I và loại III, 4) điều trị với các thuốc ức chế monoamin oxidase (MAOI), 5) sử dụng đồng thời với các thuốc gây kéo dài khoảng QT, 6) mất cân bằng điện giải, đặc biệt hạ kali máu và hạ magnesi máu, hoặc sử dụng đồng thời với các thuốc gây mất cân bằng điện giải (như thuốc lợi tiểu).

Huyết áp cao, có hoặc không có tăng huyết áp từ trước, đã được báo cáo khi sử dụng đông thời fentanyl với một thuốc an thần. Tình trạng này có thể do những thay đổi không rõ nguyên nhân trong hoạt động của hệ giao cảm sau khi sử dụng thuốc liều cao. Tuy nhiên, tình trạng này cũng thường được cho là kích thích gây mê và phẫu thuật trong quá trình gây mê nhẹ.

Theo dõi điện tâm đồ (ECG) được chỉ định khi một thuốc an thần được sử dụng kêt hợp với fentanyl như là một thuốc sử dụng trước khi dùng thuốc gây mê, đề làm tăng tác dụng gây mê, hoặc để hỗ trợ trong việc duy trì tác dụng gây mê toàn thân hoặc gây tê tại chỗ.

Khi sử dụng fentanyl đồng thời với thuốc an thần, và điện não đồ (EEG) được sử dụng để theo dõi hậu phẫu, điện não đồ của bệnh nhân có thể từ từ trở lại mức bình thường.

Lạm dụng thuốc và phụ thuộc thuốc

Lạm dụng thuốc

Fentanyl là một chất có khả năng bị lạm dụng cao, tương tự như các opioid khác, bao gồm: hydrocodon, hydromorphon, methadon, morphin, oxycodon, oxymorphon và tapentadol. Fentanyl có thể bị lạm dụng, đối tượng sử dụng có thể sử dụng thuốc sai mục đích, nghiện thuốc và bị chuyển hướng điều tra hình sự. Lạm dụng thuốc kê đơn là việc cố tình sử dụng thuốc kê đơn, thậm chí chỉ một lần, không với mục đích điều trị, do những tác dụng tâm lý và sinh lý của thuốc.

Nghiện thuốc là một loạt các hiện tượng liên quan đến hành vi, nhận thức và sinh lý, phát triển sau khi sử dụng thuốc nhiều lần, bao gồm: mong muốn sử dụng thuốc mạnh mẽ, khó khăn trong kiểm soát việc sử dụng thuốc, kiên trì sử dụng thuốc bất chấp những hậu quả có hại mà nó gây ra, luôn ưu tiên việc sử dụng thuốc hơn các hoạt động và nghĩa vụ khác, tăng sức chịu đựng, và đổi khi vật vã vì thiếu thuốc.

Fentanyl, giống như các thuốc opioid khác, có thể bị chuyển hướng sử dụng với mục đích phi y tế vào các đường dây phân phối bất hợp pháp. Khuyến cáo cần phải lưu trữ cẩn thận các thông tin về việc kê đơn thuốc, bao gồm số lượng, tần suất, nhu cầu nhắc lại, theo yêu cầu của pháp luật.

Nguy cơ lạm dụng Fentanyl

Việc lạm dụng fentanyl gây ra nguy cơ về quá liều và tử vong. Nguy cơ này tăng lên khi sử dụng đồng thời fentanyl với rượu và các chất gây ức chế thần kinh trung ương khác.

Lạm dụng thuốc đường tiêm truyền thường liên quan đến các bệnh truyền nhiễm như viêm gan và HIV.

Phụ thuộc thuốc

Dung nạp thuốc và phụ thuộc thuốc đều có thể phát triển khi sử dụng thuốc opioid trong thời gian dài. Dung nạp thuốc là sự cần thiết phải tăng liều dùng opioid để có thể duy trì một tác dụng nhất định của thuốc, ví dụ tác dụng giảm đau (trong trường hợp không có tiến triển bệnh hoặc các yếu tố bên ngoài khác). Dung nạp thuốc có thể xảy ra cả với các tác dụng mong muốn và tác dụng không mong muốn của thuốc, và có thể phát triển ở các mức độ khác nhau đối với các tác dụng khác nhau.

Hiện tượng phụ thuộc thuốc xảy ra trong hội chứng cai nghiện, sau khi ngừng sử dụng thuốc đột ngột hoặc khi giảm đáng kể liều dùng thuốc. Hiện tượng này cũng có thể xảy ra khi sử dụng thuốc có tác dụng đối kháng opioid (như naloxon, nalmefen), thuốc giảm đau chủ vận/đối kháng hỗn hợp (như pentazocin, butorphanol, nalbuphin), hoặc chất chủ vận một phần (như buprenorphin). Hiện tượng phụ thuộc thuốc có thể không xảy ra ở mức độ rõ ràng về mặt lâm sàng cho đến vài ngày đến vài tuần sử dụng liên tục opioid.

Hàm lượng natri

Thuốc này có chứa dưới 1 mmol natri (23 mg) mỗi liều, tức về cở bản có thể coi như không có natri.

Nhóm bệnh nhân đặc biệt

Bệnh nhân nhi

Độ an toàn và hiệu quả của fentanyl dùng cho trẻ em dưới 2 tuổi chưa được chứng minh.

Trong một số hiếm trường hợp, tình trạng methemoglobin huyết tăng đáng kể về mặt lâm sàng, không rõ nguyên nhân đã được báo cáo ở trẻ sinh non có trải qua phẫu thuật và gây mê khẩn cấp, có sử dụng kết hợp fentanyl, pancuronium và atropin. Mối quan hệ trực tiếp giữa việc sử dụng những thuốc này và các trường hợp tăng methemoglobin huyết chưa được chứng minh.

Bệnh nhân cao tuổi

Bệnh nhân cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) có thể tăng nhạy cảm với fentanyl. Nói chung, cần thận trọng khi lựa chọn liều cho bệnh nhân cao tuổi, thường nên bắt đầu ở mức liều thấp nhất, do đối tượng bệnh nhân này thường gặp phải tình trạng suy giảm chức năng gan, thận hoặc tim, và thường có các bệnh lý khác mắc kèm hoặc đang điều trị bằng các thuốc khác.

Suy hô hấp là nguy cơ chính thường gặp phải đối với bệnh nhân cao tuổi được điều trị bằng thuốc opioid, xảy ra sau khi sử dụng liều khởi đầu cao trên bệnh nhân không dung nạp opioid, hoặc khi sử dụng đồng thời thuốc opioid với các thuốc khác gây ức chế hô hấp. Điều chỉnh liều dùng fentanyl một cách từ từ trên đổi tượng bệnh nhân cao tuổi, và theo dõi chặt chẽ để kịp thời phát hiện các dấu hiệu của hệ thần kinh trung ương và suy hô hấp.

Fentanyl được bài tiết một cách đáng kể qua thận, do đó nguy cơ gặp phải các phản ứng bất lợi của thuốc là cao hơn trên bệnh nhân bị suy giảm chức năng thận. Bệnh nhân cao tuổi thường có chức năng thận bị suy giảm, do đó cần phải thận trọng trong việc lựa chọn liều dùng fentanyl cho bệnh nhân cao tuổi. Việc theo dõi chức năng thận của bệnh nhân cũng có thể hữu ích.

Bệnh nhân suy gan

Fentanyl nên được dùng một cách thận trọng trên bệnh nhân bị rối loạn chức năng gan, do thuốc được chuyển hóa mạnh qua gan. Đối với bệnh nhân suy gan, việc giảm liều là cần thiết. Ngoài ra, cần theo dõi bệnh nhân chặt chẽ để kịp thời phát hiện các dấu hiệu của suy hô hấp, an thần và hạ huyết áp.

Bệnh nhân suy thận

Fentanyl nên được dùng một cách thận trọng trên bệnh nhân bị rối loạn chức năng thận, do fentanyl và các chất chuyển hóa của nó được thải trừ qua thận. Đối với bệnh nhân suy thận, việc giảm liều là cần thiết. Ngoài ra, cần theo dõi bệnh nhân chặt chẽ để kịp thời phát hiện các dấu hiệu của suy hô hấp, an thần và hạ huyết áp.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Sau khi sử dụng fentanyl, không được lái xe hay sử dụng máy móc trong vòng 24 giờ, ngay cả khi bệnh nhân đã được xuất viện sớm hơn

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: C

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Cân nhắc lâm sàng

Phản ứng bất lợi trên thai nhi/trẻ sơ sinh

Việc sử dụng các thuốc giảm đau opioid kéo dài trong thời kỳ mang thai, vì mục đích y tế hoặc không vì mục đích y tế, có thể dẫn đến tình trạng phụ thuộc thuốc của trẻ sơ sinh và hội chứng cai nghiện opioid trên trẻ sơ sinh ngay sau khi sinh.

Hội chứng cai nghiện opioid trên trẻ sơ sinh thường có biểu hiện như dễ bị kích thích, hiếu động thái quá, ngủ thất thường, tiếng khóc cao, rùng mình, nôn mửa, tiêu chảy và không tăng cân. Quá trình khởi phát, thời gian mắc và mức độ nghiêm trọng của hội chứng cai nghiện opioid trên trẻ sơ sinh là khác nhau tùy thuộc vào loại opioid sử dụng, thời gian sử dụng, thời điểm và liều lượng của lần sử dụng cuối cùng của người mẹ, và tỷ lệ thải trừ thuốc trên trẻ sơ sinh. Theo dõi trẻ sơ sinh để phát hiện các dấu hiệu của hội chứng cai nghiện opioid trên trẻ sơ sinh, để có các biện pháp xử lý phù hợp.

Chuyển dạ và sinh đẻ

Không có đầy đủ dữ liệu về việc sử dụng fentanyl trong quá trình chuyển dạ và sinh đẻ. Do đó, không khuyến cáo sử dụng fentanyl trong quá trình này. Các thuốc opioid có thể qua hàng rào nhau thai và có thể gây suy hô hấp cùng các tác động về tâm sinh lý trên trẻ sơ sinh. Chất đối kháng opioid, như naloxone, cần phải sẵn có để đảo ngược tác dụng gây suy hô hấp do opioid ở trẻ sơ sinh. Fenatnyl không được khuyến cáo sử dụng cho phụ nữ mang thai trong hoặc ngay trước quá trình chuyển dạ, khi có các kỹ thuật giảm đau khác thích hợp hơn. Các thuốc giảm đau opioid, bao gồm fentanyl, có thể làm kéo dài quá trình chuyển dạ, do làm giảm tạm thời cường độ, thời gian và tần suất của các cơn co thắt tử cung. Tuy nhiên, tác dụng này không kéo dài, và có thể được bù trừ bằng sự tăng tỷ lệ giãn nở cổ tử cung giúp giúp ngắn thời gian chuyển dạ. Theo dõi trẻ sơ sinh có tiếp xúc với thuốc giảm đau opioid trong suốt quá trình chuyến dạ, để kịp thời phát hiện các dấu hiệu an thần quá mức và suy hô hấp.

Dữ liệu nghiên cứu trên động vật

Fentayl đã được nghiên cứu sử dụng trên phôi thai ở chuột mang thai với liều 30 mcg/kg tiêm tĩnh mạch (bằng 0,05 lần so với liều dùng trên người là 100 mg/kg/m2) và 160 mcg/kg tiêm dưới da (bằng 0,26 lần so với liều dùng trên người là 100 mcg/kg/m2). Không có bằng chứng nào về tác dụng gây quái thai được báo cáo.

Trong một nghiên cứu được công bố, không có bằng chứng về dị tật thai nhi hoặc tác dụng bất lợi trên bào thai được báo cáo khi nghiên cứu trên chuột mang thai được sử dụng fentanyl liên tục qua một bơm nhỏ cấy dưới da, với liều 10, 100 hoặc 500 100 mcg/kg/ngày, bắt đầu sử dụng 2 tuần trước khi sinh và sử dụng trong suốt quá trình mang thai. Liều cao bằng khoảng 0,81 lần lần so với liều dùng trên người là 100 mcg/kg/m2.

Thời kỳ cho con bú:

Tóm tắt nguy cơ

Fentanyl được bài tiết qua sữa mẹ. Một nghiên cứu trên phụ nữ cho con bú đã cho thấy tỷ lệ liều fentanyl tương đối trong sữa mẹ cho trẻ sơ sinh là 0,38%. Tuy nhiên, chưa có dữ liệu nghiên cứu đầy đủ về tác động của fentanyl lên trẻ bú sữa mẹ và tác động của fentanyl lên quá trình tạo sữa. Lợi ích sức khỏe và sự phát triển của trẻ bú sữa mẹ cần phải được xem xét cân nhắc với nhu cầu lâm sàng của người mẹ đối với việc sử dụng fentanyl, và bất kỳ tác dụng phụ tiềm ẩn nào cho trẻ sơ sinh bú sữa mẹ do fentanyl hoặc do tình trạng của người mẹ.

Cân nhắc lâm sàng

Theo dõi trẻ sơ sinh có tiếp xúc với fentanyl qua sữa mẹ để phát hiện kịp thời các dấu hiệu an thần quá mức và suy hô hấp. Các triệu chứng cai nghiện có thể xảy ra khi người mẹ ngừng sử dụng thuốc giảm đau opioid, hoặc khi người mẹ ngừng cho con bú.

Khả năng sinh sản của nam giới và nữ giới

Giảm khả năng sinh sản

Sử dụng các thuốc opioid trong thời gian dài có thể làm giảm khả năng sinh sản trên cả phụ nữ và nam giới đang trong độ tuổi sinh sản. Chưa rõ những tác động này lên khả năng sinh sản có thể đảo ngược hay không

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Sau đây là các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng của thuốc, được mô tả kỹ hơn ở mục “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”:

Nghiện thuốc, lạm dụng thuốc và sử dụng thuốc sai mục đích;

Suy hô hấp đe dọa đến tính mạng;

Tương tác với benzodiazepin và các thuốc ức chế thần kinh trung ương khác;

Hội chứng serotonin;

Suy tim mạch nặng;

Phản ứng bất lợi trên hệ tiêu hóa;

Co giật.

Các tác dụng không mong muốn sau đây liên quan đến việc sử dụng fentanyl đã được báo cáo trong các nghiên cứu lâm sàng hoặc báo cáo sau khi lưu hành thuốc. Một số tác dụng không mong muốn được báo cáo tự nguyện từ quần thể với quy mô không xác định, do đó không phải lúc nào cũng có thể ước tính được tần suất xuất hiện hoặc thiết lập được mối quan hệ nhân quả với việc sử dụng thuốc.

Cũng như các thuốc chủ vận opioid khác, các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng phổ biến nhất xảy ra khi sử dụng fentanyl là suy hô hấp, ngừng thở tạm thời, co cứng cơ và nhịp tim chậm. Nếu các tình trạng trên không được xử lý kịp thời, ngừng hô hấp, suy tuần hoàn hoặc ngừng tim có thế xảy ra. Các tác dụng không mong muốn khác đã được báo cáo là tăng huyết áp, hạ huyết áp, đau đầu, chóng mặt, an thần, mờ mắt, buồn nôn, nôn, co thắt thanh quản, co thắt phế quản, toát mồ hội, hội chứng serotonin, suy tuyến thượng thận, viêm da dị ứng, ngứa và sốc phản vệ.

Suy hô hấp phản ứng thứ cấp cũng được báo cáo là có thể xảy ra sau phẫu thuật. Khi thuốc an thân được sử dụng đồng thời với fentanyl, các tác dụng không mong muốn sau có thể xảy ra: ớn lạnh và/hoặc run rẩy, bồn chồn và tình trạng ảo giác sau phẫu thuật (đổi khi liên quan đến giai đoạn suy giảm tâm thần thoáng qua). Các triệu chứng ngoại tháp (loạn trương lực cơ, chứng ngồi không yên – akathisia, và cơn trợn ngược mắt) có thể quan sát thấy trong vòng 24 giờ sau phẫu thuật. Khi các triệu chứng này xảy ra, các triệu chứng ngoại tháp có thể được kiểm soát bởi các thuốc điều trị Parkinson. Buồn ngủ sau phẫu thuật cũng thường được báo cáo sau khi sử dụng thuốc an thần cùng với fentanyl.

Các trường hợp loạn nhịp tim, ngừng tim và tử vong cũng đã được báo cáo sau khi sử dụng fentanyl cùng với một thuốc an thần.

Hội chứng serotonin: các trường hợp gặp phải hội chứng serotonin, một tình trạng tiềm ẩn đe dọa đến tính mạng, cũng đã được báo cáo khi sử dụng đồng thời các thuốc opiod với các thuốc hệ serotonergic.

Suy tuyến thượng thận: các trường hợp suy tuyến thượng thận cũng đã được báo cáo trên các bệnh nhân sử dụng thuốc opioid, đặc biệt thường xảy ra ở các bệnh nhân sử dụng thuốc trong thời gian dài trên một tháng.

Sốc phản vệ: đã được báo cáo.

Suy giảm androgen: các trường hợp thiếu hụt androgen có xảy ra khi sử dụng các thuốc opioid trong thời gian dài.

Rối loạn mạch máu: đau tĩnh mạch, viêm tĩnh mạch.

Sau khi lưu hành thuốc trên thị trường, cần phải báo cáo tác dụng không mong muốn nếu có nghi ngờ. Việc báo cáo này sẽ giúp tiếp tục giám sát lợi ích và nguy cơ của thuốc. Cán bộ y tế cần phải báo cáo tất cả các tác dụng không mong muốn nghi ngờ của thuốc về Trung tâm quốc gia về thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Nhịp tim chậm: Dùng atropin.

Suy hô hấp: Trong khi mổ, nếu suy hô hấp vẫn còn sau khi mổ thì phải hô hấp nhân tạo kéo dài. Ngoài ra có thể phải tiêm tĩnh mạch naloxon. Phải dò liều naloxon thật cẩn thận để đạt hiệu quả mong muốn mà không ảnh hưởng đến việc kiểm soát đau sau mổ hoặc không gây tác dụng không mong muốn khác như tăng huyết áp và nhịp tim nhanh. Liều khởi đầu có thể là 0,5 microgam naloxon/kg thể trọng, tiêm tĩnh mạch. Phải tiếp tục theo dõi suy hô hấp để tiêm bổ sung naloxon nếu cần. Tiêm truyền tĩnh mạch liên tục có thể liên tục kiểm soát được các tác dụng không mong muốn của opioid.

Hạ huyết áp: Bồi phụ nước và điện giải. Ðặt người bệnh ở tư thế máu dễ trở về tim, nếu điều kiện mổ cho phép. Nếu cần thiết, tiêm thuốc tăng huyết áp (trong hoặc sau mổ) và/hoặc naloxon (chỉ tiêm sau mổ).

Cứng cơ: Tiêm thuốc ức chế dẫn truyền thần kinh cơ và hỗ trợ hô hấp hoặc có thể tiêm naloxon.

Những biện pháp hỗ trợ khác cần phải sử dụng nếu cần thiết.

Có thể làm giảm nguy cơ cứng cơ nếu tiêm tĩnh mạch chậm và được chỉ định dùng các thuốc benzodiazepin trước khi dùng fentanyl. Có thể xảy ra suy hô hấp thứ cấp sau mổ.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Chất ức chế CYP3A4

Tác động lâm sàng: việc sử dụng đồng thời fentanyl với các chất ức chế CYP3A4 có thế làm tăng nồng độ fentanyl trong huyết tương, dẫn đến làm tăng tác dụng hoặc kéo dài tác dụng opioid của thuốc, đặc biệt khi chất ức chế CYP3A4 được sử dụng sau khi bệnh nhân đã đạt được liều fentanyl ôn định. Sau khi ngừng sử dụng chât ức chệ CYP3A4, do tác dụng của chât ức chế được loại bỏ, nồng độ fentanyl trong huyết tương sẽ giảm, dẫn đến giảm hiệu quả điều trị của opioid hoặc dẫn đến hội chứng cai nghiện trên những bệnh nhân đã phát triển tình trạng phụ thuộc vào thuốc.

Can thiệp: nếu việc sử dụng đồng thời các thuốc trên là cần thiết, cần phải xem xét giảm liều dùng fentanyl cho đến khi đạt được hiệu quả ổn định của thuốc. Theo dõi bệnh nhân định kỳ để kịp thời phát hiện các dấu hiệu suy hô hấp và an thần. Nếu ngừng sử dụng chất CYP3A4, cần xem xét tăng liều dùng fentanyl cho đến khi đạt được hiệu quả ổn định của thuốc. Theo dõi bệnh nhân để kịp thời phát hiện các dấu hiệu của hội chứng cai nghiện opioid.

Ví dụ: kháng sinh nhóm macrolid (như erythromycin), thuốc kháng nấm nhóm azol (như ketoconazol), thuốc ức chế protease (như ritonavir), nước bưởi.

Chất gây cảm ứng CYP3A4

Tác động lâm sàng: việc sử dụng đồng thời fentanyl với các chất gây cảm ứng CYP3 A4 có thể làm giảm nồng độ fentanyl trong huyết tương, dẫn đến làm giảm hiệu quả điều trị hoặc xuất hiện hội chứng cai nghiện trên những bệnh nhân đã phát triển tình trạng phụ thuộc vào thuốc (xem phần “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”). Sau khi ngừng sử dụng chất gây cảm ứng CYP3A4, do tác dụng của chất gây cảm ứng được loại bỏ, nồng độ fentanyl trong huyết tương sẽ tăng, dẫn đến làm tăng hoặc kéo dài cả tác dụng điều trị và tác dụng bất lợi của thuốc, và có thể gây suy hô hấp nghiêm trọng.

Can thiệp: nếu việc sử dụng đồng thời các thuốc trên là cần thiết, cần phải xem xét tăng liều dùng fentanyl cho đến khi đạt được hiệu quả ổn định của thuốc. Theo dõi bệnh nhân để kịp thời phát hiện các dấu hiệu của hội chứng cai nghiện opioid. Nếu ngừng sử dụng chất gây cảm ứng CYP3A4, cần xem xét giảm liều dùng fentanyl và theo dõi bệnh nhân để kịp thời phát hiệu các dấu hiệu của suy hô hấp.

Ví dụ: rifampin, Carbamazepin, phenytoin.

Benzodiazepin và các thuốc gây ức chế thần kinh trung ương khác

Tác động lâm sàng: việc sử dụng đồng thời fentanyl với các thuốc gây ức chế thần kinh trung ương có thể làm giảm áp lực động mạch phổi, và có thể gây hạ huyết áp. Khi liều cao fentanyl hoặc liều gây mê fentanyl được sử dụng, ngay cả một liều diazepam tương đối nhỏ cũng có thể gây suy tim mạch. Trong giảm đau sau phẫu thuật, việc sử dụng đồng thời với fentanyl có thể làm tăng nguy cơ hạ huyết áp, suy hô hấp, an thần sâu, hôn mê và tử vong.

Can thiệp: trong giảm đau sau phẫu thuật, khởi đầu với một liều fentanyl thấp hơn, và theo dối bệnh nhân đề kịp thời phát hiện các dấu hiệu suy hô hấp, an thần và hạ huyết áp. Bổ sung dịch truyền hoặc các biện pháp khác chống hạ huyết áp cần phải chuẩn bị sẵn sàng.

Ví dụ: benzodiazepin và thuốc an thần/thuốc ngủ khác, thuốc làm giảm căng thẳng thần kinh, barbiturat, thuốc an thần, thuốc giãn cơ, thuốc gây mê toàn thân, thuốc chống loạn thần, các opioid khác, rượu

Thuốc hệ serotonergic

Tác động ỉâm sàng: việc sử dụng đồng thời opioid với các thuốc khác có tác động lên hệ thống dẫn truyền thần kinh hệ serotonergic có thể dẫn đến hội chứng serotonin (xem phần “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”).

Can thiệp: nếu việc sử dụng đồng thời các thuốc trên là cần thiết, cần theo dõi bệnh nhân chặt chẽ, đặc biệt khi bắt đầu điều trị và khi điều chỉnh liều. Ngừng sử dụng fentanyl nếu nghi ngờ bệnh nhân gặp phải hội chứng serotonin.

Ví dụ: thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc (SSRIs), thuốc ức chế tái hấp thu serotonin- norepinephrin (SNRIs), thuốc chống trầm cảm ba vòng (TCAs), triptan, thuốc đối kháng thụ thể 5-HT3, thuốc tác động lên hệ thống dẫn truyền thần kinh hệ serotonergic (ví dụ mirtazapin, trazadon, tramadol), thuốc ức chế monoamin oxidase (sử dụng trong điều trị rối loạn tâm thần và các chất khác, như linezolid và xanh methylen tiêm tĩnh mạch).

Thuốc ức chế monoamin oxidase (MAOI)

Tác động lâm sàng: tương tác giữa các thuốc MAOI với opioid có thể gây ra hội chứng serotonin hoặc độc tính opioid (ví dụ suy hô hấp, hôn mê), xem phần “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc.

Can thiệp: khuyến cáo không nên sử dụng fentanyl cho bệnh nhân đang dùng các thuốc MAOl hoặc có sử dụng các thuốc MAOI trong vòng 14 ngày gần nhất.

Ví dụ: phenelzin, tranylcypromin, linezolid.

Thuốc giảm đau opioid chủ vận/đối kháng hỗn hợp hoặc chủ vận một phần

Tác động lâm sàng: có thể làm giảm tác dụng giảm đau của fentanyl và/hoặc gây ra các triệu chứng sớm của hội chứng cai nghiện.

Can thiệp: tránh sử dụng đồng thời các thuốc này.

Ví dụ: butorphanol, nalbuphin, pentazocin, buprenorphin.

Thuốc giãn cơ

Tác động lâm sàng: fentanyl có thể làm tăng cường tác dụng ức chế thần kinh cơ của các thuốc gây giãn cơ xương, và làm tăng mức độ suy hô hấp.

Can thiệp: theo dõi bệnh nhân để kịp thời phát hiện các dấu hiệu suy hô hấp có thể xảy ra nặng hơn so với dự kiến, giảm liều dùng fentanyl và/hoặc thuốc giãn cơ nếu cần thiết.

Thuốc lợi tiểu

Tác dộng lâm sàng: opioid có thể làm giảm hiệu quả điều trị của thuốc lợi tiểu bằng cách gây giải phóng hormon chống bài niệu.

Can thiệp: theo dõi bệnh nhân để kịp thời phát hiện các dấu hiệu giảm bài niệu và/hoặc ảnh hưởng lên huyết áp, tăng liều thuốc lợi tiểu nếu cần thiết.

Thuốc kháng cholinergic

Tác động lâm sàng: việc sử dụng đồng thời với các thuốc kháng cholinergic có thể làm tăng nguy cơ bí tiểu và/hoặc táo bón nặng, có thể dẫn đến liệt ruột.

Can thiệp: theo dõi bệnh nhân để kịp thời phát hiện các dấu hiệu bí tiểu hoặc giảm nhu động dạ dày ruột khi sử dụng đồng thời fentanyl với các thuốc kháng cholinergic.

Thuốc an thần

Tác động lâm sàng: huyết áp cao, có hoặc không có tăng huyết áp từ trước, đã được báo cáo khi sử dụng đồng thời fentanyl với một thuốc an thần (xem phần “Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc”).

Can thiệp: theo dõi diện tâm dồ (ECG) được chỉ định khi một thuốc an thần được sử dụng kết hợp với fentanyl như là một thuốc sử dụng trước khi dùng thuốc gây mê, để làm tăng tác dụng gây mê, hoặc để hỗ trợ trong việc duy trì tác dụng gây mê toàn thân hoặc gây tê tại chỗ.

Nitơ oxid

Tác động lâm sàng: nitơ oxid đã được báo cáo là có thể gây suy tim mạch khi sử dụng đồng thời với liều cao fentanyl.

Can thiệp: theo dối bệnh nhân để kịp thời phát hiện các dấu hiệu của suy tim mạch có thể nghiêm trọng hơn dự kiến

4.9 Quá liều và xử trí:

Quá liều cấp tính với fentanyl có thể được biểu hiện bằng các dấu hiệu như ức chế hô hấp, buồn ngủ tiến triển đến trạng thái ngẩn ngơ hoặc hôn mê, yếu cơ xương, da lạnh và ẩm ướt, co đồng tử, và trong một số trường hợp, phù phối, nhịp tim chậm, hạ huyết áp, tắc nghẽn đường thở một phần hoặc hoàn toàn, ngáy không điển hình, và tử vong. Tình trạng giãn đồng tử rõ rệt hơn là co đồng tử có thể được quan sát thấy, kèm với tình trạng thiếu oxy trong mô trong trường hợp sử dụng thuốc quá liều.

Cách xử trí khi dùng thuốc quá liều

Trong trường hợp quá liều, ưu tiên mở đường thông khí, bảo vệ đường thở và hỗ trợ thở máy hoặc thở máy có kiểm soát, nếu cần thiết. Sử dụng các biện pháp hỗ trợ khác (bao gồm oxy và thuốc tăng huyết áp) trong trường hợp sốc tuần hoàn và phù phổi. Ngừng tim hoặc rối loạn nhịp tim sẽ đòi hỏi cần phải có các kỹ thuật hỗ trợ sống tiên tiên. Các chất đối kháng opioid, như naloxon hoặc nalmefen, là thuốc giải độc đặc hiệu cho tình trạng suy hô hấp do quá liều opioid. Đối với trường hợp suy hô hấp hoặc suy tuần hoàn đáng kể về mặt lâm sàng do quá liều fentanyl, nên sử dụng một chất đối kháng opioid. Không nên sử dụng chất đối kháng opioid trong trường hợp bệnh nhân không có biểu hiện suy hô hấp hoặc suy tuần hoàn đáng kể về mặt lâm sàng. Do thời gian đảo ngược tác dụng của opioid là ngắn hơn thời gian tác dụng của fentanyl, cần theo dõi bệnh nhân chặt chẽ cho đến khi bệnh nhân có thể tự hô hấp được một cách chắc chắn. Nếu tác dụng của chất đối kháng opioid là thấp dưới mong đợi hoặc chỉ kéo dài trong thời gian ngắn, hãy dùng thêm chất đối kháng bổ sung theo chỉ dẫn trong phần thông tin kê đon của sản phẩm. Đối với các đối tượng phụ thuộc thuốc opioid, việc sử dụng chât đổi kháng opioid ở liều khuyên cáo thông thường có thể gây ra hội chứng cai nghiện cấp tính. Mức độ nghiêm trọng của hội chứng cai nghiện xảy ra sẽ phụ thuộc vào mức độ phụ thuộc thuốc và liều chất đối kháng opioid được sử dụng. Nếu chất đối kháng opioid được quyết định sử dụng để xử lý tình trạng suy hô hấp nặng trên bệnh nhân bị phụ thuộc thuốc, cần phải theo dõi bệnh nhân chặt chẽ từ lúc bắt đầu dùng thuốc, và cần điều chỉnh liều nhỏ hơn so với liều dùng thông thường.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Nhóm dược lý: thuốc gây mê toàn thân, thuốc giảm đau nhóm opioid, dẫn xuất piperidin.

Mã ATC: N01AH01, N02AB03.

Cơ chế tác dụng: fentanyl là một chất chủ vận opioid, có tác dụng điều trị chính là giảm đau và an thần.

Tác dụng trên hệ thần kinh trung ương

Fentanyl gây suy hô hấp do thuốc tác động trực tiếp lên trung tâm hô hấp ở não. Tình trạng suy hô hấp xảy ra có liên quan đến sự giảm đáp ứng của trung tâm hô hấp ở não đối với sự tăng CO2 và kích thích điện. Fentanyl gây ra tình trạng thu hẹp đồng tử, ngay cả trong điều kiện thiếu sáng hoàn toàn. Hẹp đồng tử là một dấu hiệu cho thấy tình trạng quá liều opioid, tuy nhiên dấu hiệu này không đặc trưng cho tình trạng quá liều (ví dụ tổn thượng cầu não do xuất huyết hoặc do thiếu máu cục bộ cũng có thể gây ra dấu hiệu tưong tự). Hiện tượng giãn đồng tử rõ rệt hơn là hẹp đồng tử có thể xảy ra trong trường hợp quá liều do tình trạng thiếu oxy.

Tác dụng trên đường tiêu hóa vả các cơ trơn khác

Fentanyl làm giảm nhu động ruột, đồng thời làm tăng mức độ co that cơ trơn tại hang dạ dày và tá tràng. Sự tiêu hóa thức ăn tại ruột non bị trì hoãn, và giảm các cơn co thắt để đẩy thức ăn đi. Các sóng nhu động đẩy thức ăn tại ruột giảm, trong khi mức độ tăng lên, có thể tăng đến ngưỡng co thắt, gây ra táo bón. Các tác dụng khác gây ra bởi opioid có thể bao gồm: giảm tiết dịch mật và dịch tụy, co tắt cơ vòng Oddi, và tăng amylase huyết thanh thoáng qua.

Tác dụng trên hệ tim mạch

Fentanyl gây giãn mạch ngoại vi, có thể dẫn đến hạ huyết áp tư thế đứng hoặc ngất. Các biểu hiện của sự giải phóng histamin và/hoặc giãn mạch ngoại vi có thể bao gồm ngứa, đỏ bừng, mắt đỏ, ra mồ hôi, và/hoặc hạ huyết áp tư thế đứng.

Tác dụng trên hệ nội tiết

Các thuốc opioid gây ức chế bài tiết hormon adrenocorticotropic (ACTH), cortisol, và hormon lutenizing (LH) ở người. Thuốc cũng kích thích bài tiết prolactin, hormon tăng trưởng (GH), và kích thích tuyến tụy bài tiết hormon insulin và glucagon.

Sử dụng các thuốc opioid trong thời gian dài có thể ảnh hưởng đến trục vùng dưới đồi-tuyến yên-sinh dục, dẫn đến sự thiếu hụt adrogen, có thể gây ra các biểu hiện như giảm ham muốn tình dục, liệt dương, rối loạn cương dương, mất kinh, hoặc vô sinh. Vai trò nguyên nhân của opioid trong các triệu chứng lâm sàng của tình trạng thiểu năng sinh dục còn chưa rõ ràng, do có nhiều yếu tố khác như thuốc, thể chất, lối sống và căng thẳng tâm lý cũng có thể ảnh hưởng đến nồng độ hormon sinh dục, và cho đến nay cá nghiên cứu đã được tiến hành vẫn chưa kiểm soát đầy đủ được tất cả các yếu tố này.

Tác dụng trên hệ miễn dịch

Các thuốc opioid đã được chứng minh là có nhiều tác dụng trên hệ miễn dịch trên mô hình nghiên cứu in vitro và trên động vật. Ý nghĩa lâm sàng của tác dụng này còn chưa rõ ràng. Nhìn chung, các thuốc opioid có tác dụng ức chế miễn dịch ở mức độ bình thường.

Mối tương quan nồng độ – tác dụng

Một liều 100 mcg (0,1 mg) (2,0 ml) fentanyl có tác dụng giảm đau tương đương với khoảng 10 mg morphin hoặc 75 mg pethidin.

Nồng độ giảm đau tối thiểu của thuốc có thể thay đổi rất nhiều trên các đối tượng bệnh nhân khác nhau, đặc biệt trên các bệnh nhân đã có tiền sử điều trị bằng thuốc opioid mạnh. Nồng độ giảm đau tối thiểu của fentanyl trên mỗi bệnh nhân có thể tăng theo thời gian, do sự gia tăng cường độ đau, sự phát triển của hội chứng đau mới và/hoặc do sự dung nạp thuốc.

Tác dụng giảm đau của fentanyl xuất hiện gần như ngay lập tức sau khi tiêm tĩnh mạch. Tác dụng giảm đau tối da của thuốc đạt được trong vòng vài phút. Tác dụng giảm đau của fentanyl thường kéo dài từ 30 đến 60 phút, sau một liều đơn lên đến 100 mcg (0,1 mg) (2,0 ml) fentanyl, tiêm tĩnh mạch. Sau khi tiêm báp, tác dụng giảm đau của fentanyl xuất hiện sau 7-8 phút, và kéo dài trong khoảng 1 -2 giờ.

Mối tương quan nồng độ – tác dụng không mong muốn

Có mối tương quan giữa sự tăng nồng độ fentanyl trong huyết tương và sự tăng tần suất các tác dụng không mong muốn của opioid liên quan đến liều như: buồn nôn, nôn, tác dụng trên hệ thần kinh trung ương, và suy hô hấp. Ở những bệnh nhân dung nạp opioid, tình trạng này có thể được thay bởi sự phát triển khả năng dung nạp với các tác dụng không mong muốn của opioid.

Tác dụng không mong muốn của fentanyl xuất hiện gần như ngay lập tức sau khi tiêm tĩnh mạch. Tác dụng gây suy hô hấp xảy ra mạnh nhất khoảng vài phút sau khi dùng thuốc. Cũng như các thuốc giảm đau gây nghiện có tác dụng dài hơn, tác dụng gây suy hô hấp của fentanyl có thể kéo dài hơn tác dụng giảm đau của thuốc. Các hiện tượng sau đây đã được báo cáo, có liên quan đến sự thay đổi đáp ứng hô hấp của bệnh nhân đối với kích thích CO2, sau khi bệnh nhân sử dụng fentanyl:

Sự giảm độ nhạy cảm với kích thích CO2 có thể kéo dài hơn so với tỷ lệ suy hô hấp. (Sự thay đổi độ nhạy cảm với kích thích CO2 đã được chứng minh trong tối đa 4 giờ, sau khi sử dụng một liều 600 mcg [0,6 mg] [12 ml] fentanyl trên đối tượng người khỏe mạnh). Fentanyl thường làm chậm tốc độ hô hấp, thời gian tác dụng và mức độ suy hô hấp phụ thuộc vào liều dùng thuốc.

Tác dụng gây ức chế hô hấp sau khi sử dụng một liều fentanyl tiêm tĩnh mạch được ghi nhận đạt tối đa 5-15 phút sau khi tiêm

Cơ chế tác dụng:

Fentanyl là một thuốc giảm đau nhóm opioid có tương tác chủ yếu với micro-receptor. Tác dụng điều trị quan trọng nhất là giảm đau và gây ngủ.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Đặc tính dược động học của fentanyl có thể được mô tả như một mô hình ba ngăn.

Phân bố

Khả năng liên kết của fentanyl với protein huyết tương tăng lên theo sự tăng ion hóa của thuốc. Thay đồi giá trị pH có thể ảnh hưởng đến sự phân bố của thuốc giữa huyết tương và hệ thần kinh trung ương. Thuốc được tích lũy trong cơ xương và mỡ, và được giải phóng từ từ vào máu. Thể tích phân bố của fentanyl là 4 1/kg. Thời gian phân bố là 1,7 phút và thời gian phân bố lại là 13 phút.

Chuyển hóa và thải trừ

Thời gian bán thải cuối cùng của thuốc là 219 phút.

Fentanyl được chuyển hóa chủ yếu qua gan, chứng minh ràng thuốc có độ thải trừ qua đường chuyển hóa lần đầu qua gan cao. Khi dùng theo đường tĩnh mạch, thuốc thải trừ khoảng 75% liều dùng qua nước tiểu, chủ yếu dưới dạng chất chuyển hóa và dưới 10% thải trừ dưới dạng chưa chuyển hóa. Khoảng 9% liều dùng được thải trừ qua phân, chủ yếu dưới dạng chất chuyển hóa.

Bệnh nhân suy gan

Fentanyl nên được sử dụng thận trọng trên đối tượng bệnh nhân rối loạn chức năng gan, do thuốc chuyển hóa nhiều qua gan. Trong trường hợp cần thiết, cần giảm liều dùng thuốc và theo dõi bệnh nhân chặt chẽ để kịp thời phát hiện các dấu hiệu của suy hô hấp, an thần và hạ huyết áp.

Bệnh nhân suy thận

Các dữ liệu thu được từ một nghiên cứu sử dụng fentanyl theo đường tĩnh mạch trên bệnh nhân trải qua ghép thận dã cho thấy ràng độ thanh thải của fentanyl có thể giảm trên đối tượng bệnh nhân này. Nếu sử dụng fentanyl trên bệnh nhân suy thận, cần theo dõi bệnh nhân chặt chẽ đe kịp thời phát hiện các dấu hiệu độc tính của fentanyl và giảm liều nếu cần thiết.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

….

6.2. Tương kỵ :

Thuốc này tương kỵ hóa học với thiopental và methohexital, do chênh lệch lớn về giá trị pH.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản dưới 30°c. Tránh ánh sáng. Không để đóng băng. Để xa tầm tay trẻ em.

Fentanyl có thể được pha với dung dịch NaCl 0,9% hoặc dung dịch glucose 5%. Nếu cần thiết, dung dịch sau khi pha có thể được bảo quản (bác sỹ cho bệnh nhân dùng thuốc tự chịu trách nhiệm) trong tối đa 24 giờ ở nhiệt độ dưới 25°c, với giả định rằng dung dịch được pha trong điều kiện vô trùng được kiểm soát và đã được thẩm định. Dung dịch không dùng sau 24 giờ phải bỏ đi

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam