Factor IX Human (Yếu tố IX)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Factor IX Complex (Yếu tố IX)

Phân loại: Thuốc cầm máu.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): B02BD04.

Brand name: Replenine-VF.

Generic : Factor IX Complex (Yếu tố IX)

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Bột đông khô pha tiêm. Mỗi ml sau khi pha : Factor IX 50,0 IU/mL, factor II 0,2 IU/mL, factor X 1,0 IU/mL.

Thuốc tham khảo:

REPLENINE-VF
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Aciclovir …………………………. 400 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Điều trị và phòng ngừa xuất huyết ở những bệnh nhân haemophilia B (thiếu hụt yếu tố IX bẩm sinh).

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Pha bột với nước cất pha tiêm (2,5mL hoặc 5mL cho 250IU, 5mL hoặc 10mL cho 500IU, và 10mL hoặc 20mL cho 1000IU). Không dùng nước cất quá hạn hoặc có dấu hiệu của chất lợn cợn có thể nhìn thấy được. Không tiêm truyền mỗi nước cất pha tiêm.

Dung dịch được lấy ra từ lọ chuyển sang xy lanh nhựa (xy lanh được phép lưu hành, sản xuất bởi Becton Dickinson) thông qua kim tiêm đầu lọc được đóng gói cùng sản phẩm. Đối với tiêm truyền, kim “bướm“ số 23 được phép dùng với sản phẩm này. Mặc dù thuốc không thể gây ra tác dụng phụ, nhưng cần truyền chậm (xấp xỉ 3 mL/phút), đặc biệt đối với liều đầu tiên. Dung dịch không cần phải bảo quản và tiêm truyền tĩnh mạch chậm phải được hoàn thành trong vòng 1 giờ sau khi pha. Yếu tố IX nên được dùng khi có dấu hiệu đầu tiên của xuất huyết xảy ra và cần dùng nhắc lại cho đến khi ngừng chảy máu. Mỗi trường hợp cụ thể phải được đánh giá hiệu quả điều trị riêng biệt.

Liều dùng:

Điều trị cần được tiến hành dưới sự theo dõi của bác sỹ có kinh nghiệm trong điều trị haemophilia.

Liều lượng và thời gian điều trị của các liệu pháp thay thế phụ thuộc vào mức độ nặng nhẹ của tình trạng thiếu hụt yếu tố IX, vào vị trí và phạm vi xuất huyết và phụ thuộc vào tình trạng lâm sàng của bệnh nhân.

Số lượng đơn vị yếu tố IX được dùng được biểu thị bằng đơn vị quốc tế (IU), tương ứng với tiêu chuẩn hiện hành của WHO đối với các sản phẩm yếu tố IX. Hoạt tính của yếu tố IX trong huyết tương được biểu thị hoặc là bằng tỉ lệ phần trăm (tương ứng huyết tương của người bình thường) hoặc là IU (tương ứng với tiêu chuẩn quốc tế về yếu tố IX ở người). Một IU hoạt tính yếu tố IX tương đương với lượng tương ứng của yếu tố IX trong 1mL huyết tương ở người bình thường.

Công thức tính liều lượng yếu tố IX cần thiết dựa theo kinh nghiệm, 1 IU yếu tố IX/kg thể trọng làm tăng hoạt tính yếu tố IX lên 1,3% hoạt tính thông thường. Liều lượng cần thiết được xác định theo công thức sau:

Số đơn vị cần thiết = thể trọng (kg) x mức tăng yếu tố IX mong muốn (%)(IU/dL) x 0,8

Liều lượng và tần suất điều trị cần được định hướng theo hiệu quả lâm sàng ở từng trường hợp riêng biệt. Các sản phẩm yếu tố IX hiếm khi được dùng hơn một lần mỗi ngày.

Trong những trường hợp xuất huyết sau, hoạt tính yếu tố IX không được giảm xuống dưới mức hoạt tính trong huyết tương được cho phép (IU/dL) trong thời gian tương xứng. Bảng 1 dưới đây có thể được sử dụng để chỉ định liều trong các trường hợp xuất huyết và phẫu thuật:

Bảng 1.
Cấp độ xuất huyết/ Loại phẫu thuật Lượng yếu tố IX cần thiết (%)(IU/dL) Tần suất điều trị (giờ)/ Thời gian điều trị (ngày)
Xuất huyết
Xuất huyết nhẹ trong khớp, trong cơ hoặc ở miệng 20-40 Lặp lại mỗi 24 giờ, ít nhất 1 ngày, cho đến khi tình trạng xuất huyết được biểu hiện bởi hết đau hoặc đã khỏi
Xuất huyết nặng trong khớp, cơ hoặc tụ huyết 30-60 Tiêm truyền lặp lại mỗi 24 giờ trong 3-4 ngày hoặc cho đến khi hết đau hoặc đã đi lại được
Xuất huyết nguy hiểm tính mạng 60-100 Tiêm truyền lặp lại mỗi 8-24 giờ cho đến khi không còn nguy hiểm tính mạng
Phẫu thuật
Nhỏ
Bao gồm nhổ răng
30-60 Mỗi 24 giờ, ít nhất 1 ngày cho đến khi lành
Phẫu thuật lớn 80-100 (trước và sau phẫu thuật) Tiêm truyền lặp lại mỗi 8-24 giờ cho đến khi lành, sau đó điều trị ít nhất trong 7 ngày để duy trì hoạt tính yếu tố 1X 30-60% (lU/dL).

Tùy vào tình trạng cụ thể, có thể phải cần dùng liều lớn hơn liều được tính, đặc biệt trong trường hợp dùng liều đầu tiên.

Dùng cho trẻ em

Đối với trẻ em, liều 1 IU/kg. Không có thông tin đầy đủ để khuyến cáo dùng Yếu tố IX cho trẻ dưới 6 tuổi.

Trong quá trình điều trị, cần xác định mức yếu tố IX thích hợp để chỉ định liều lượng và tần suất dùng thuốc lặp lại. Đặc biệt, trong trường hợp can thiệp vào phẫu thuật nặng, kiểm soát chính xác trị liệu thay thế bằng các phương pháp phân tích đông máu (hoạt tính yếu tố IX trong huyết tương) là cần thiết. Những bệnh nhân khác nhau có thể có đáp ứng khác nhau với yếu tố IX, đạt được mức độ phục hồi trên in vivo khác nhau và có thời gian bán hủy khác nhau.

Bệnh nhân cần được kiểm soát sự phát triển của kháng thể yếu tố IX. Nếu mức hoạt tính yếu tố IX không đạt được như mong muốn, hoặc nếu xuất huyết không được kiểm soát với liều phù hợp, cần tiến hành test để xác định xem sự có mặt của kháng thể yếu tố IX. Nếu các kháng thể hiện diện với mức <10 đơn vị Bethesda (BU)/mL, bổ sung thêm Yếu tố IX có thể bất hoạt chất ức chế. Ở những bệnh nhân có mức > 10 BU/mL hoặc có đáp ứng mạnh với kháng nguyên, phải sử dụng phức hợp prothrombin (PCC) (hoạt hóa) hoặc các chế phẩm yếu tố VII hoạt hóa tái tổ hợp (rFVIIa). Những liệu pháp này phải được chỉ định bởi bác sỹ có kinh nghiệm điều trị haemophilia.

Không dùng vượt quá liều khuyến cáo.

4.3. Chống chỉ định:

Mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào của thuốc.

Thuốc không được chỉ định cho những bệnh nhân có dấu hiệu đông máu rải rác bên trong mạch (DIC), hoặc những bệnh nhân suy gan cấp tính. Những bệnh nhân bị suy chức năng gan cần kiểm soát dấu hiệu của DIC (Xem Cảnh báo).

4.4 Thận trọng:

Cũng như bất kỳ sản phẩm protein tiêm tĩnh mạch nào, các phản ứng mẫn cảm dị ứng có thể xảy ra. Yếu tố IX chứa những loại protein khác với yếu tố IX. Bệnh nhân cần được cảnh báo về các dấu hiệu ban đầu của các phản ứng quá mẫn bao gồm, phát ban, mề đay tổng quát, thắt ngực, thở khò khè, hạ áp hoặc phản ứng phản vệ. Nếu các triệu chứng này xuất hiện, nên ngừng thuốc ngay lập tức và thông báo với bác sỹ. Trường hợp bị sốc, cần tuân thủ các tiêu chuẩn điều trị sốc hiện hành.

Khi dùng các sản phẩm dược được bào chế từ máu hoặc huyết tương của người, các bệnh nhiễm khuẩn do lan truyền của các tác nhân lây nhiễm không thể được loại trừ hoàn toàn. Điều này cũng áp dụng đối với các mầm bệnh cho đến nay vẫn không rõ nguồn gốc. Tuy nhiên, nguy cơ lan truyền các tác nhân lây nhiễm được giảm nhờ:

Chọn lọc đối tượng hiến máu thông qua phỏng vấn y khoa và sàng lọc máu để ngăn ngừa 3 loại virus gây bệnh HIV, HVC, HBV.

Các thủ tục bất hoạt/loại bỏ được tiến hành trong quá trình sản xuất, đã được kiểm định sử dụng các virus mẫu và được đánh giá là hiệu quả đối với HIV, HCV, HAV, parvovirus B19 và HBV.

Khuyến cáo bệnh nhân cần được tiêm chủng ngừa (viêm gan A và B).

Sau khi điều trị nhắc lại với sản phẩm yếu tố IX, phải kiểm soát sự phát triển của các kháng thể, được tính bằng đơn vị Bethesda Units trong các test sinh lý thích hợp.

Trong y văn đã có báo cáo thể hiện mối liên quan giữa sự xuất hiện của kháng thể yếu tố IX và các phản ứng dị ứng. Vì vậy, bệnh nhân trải qua phản ứng dị ứng cần phải kiểm tra sự hiện diện của kháng thể. Lưu ý rằng bệnh nhân có các kháng thể yếu tố IX có thể nguy cơ phản ứng phản vệ tăng lên nếu dùng tiếp yếu tố IX. Bởi vì nguy cơ của các phản ứng dị ứng liên quan với yếu tố IX, vì vậy dùng yếu tố IX lần đầu, theo đánh giá của bác sĩ điều trị, cần được tiến hành dưới sự theo dõi y khoa, nơi có thể cung cấp liệu pháp điều trị thích hợp các phản ứng dị ứng.

Thận trọng khi dùng sản phẩm này cho trẻ dưới 6 tuổi, đối tượng hạn chế dùng các sản phẩm yếu tố IX.

Vì sử dụng sản phẩm phức hợp yếu tố IX đã từng có liên quan tới biến chứng tắc mạch huyết khối và nguy cơ cao hơn nếu sử dụng các chế phẩm có độ tinh khiết thấp, vì vậy sử dụng các chế phẩm có chứa yếu tố IX có nguy cơ tiềm tàng ở những bệnh nhân có dấu hiệu hủy fibrin và những người mắc chứng đông máu rải rác trong lòng mạch (DIC). Bởi vì nguy cơ tiềm tàng của biến chứng huyết khối, do vậy theo dõi lâm sàng để phát hiện các dấu hiệu đông máu huyết khối và đông máu do tiêu thụ ban đầu cần phải tiến hành với các test sinh lý thích hợp khi chỉ định thuốc cho các bệnh nhân mắc bệnh gan, bệnh nhân sau phẫu thuật, trẻ sơ sinh, hoặc những đối tượng có hiện tượng của tắc mạch huyết khối hoặc đông máu rải rác trong lòng mạch. Đối với mỗi trường hợp, cần xác định lợi ích điều trị Yếu tố IX so với nguy cơ của các biến chứng.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Không có bằng chứng nào cho thấy yếu tố IX có thể làm suy giảm khả năng lái xe và vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: C

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Chưa có nghiên cứu về sinh sản và nghiên cứu trong thời gian nuôi con bú trên động vật được tiến hành với Yếu tố IX. An toàn của Yếu tố IX đối với phụ nữa mang thai chưa được chứng minh. Vì vậy, chỉ dùng Yếu tố IX cho phụ nữ có thai và nuôi con bú nếu thật cần thiết và lợi ích điều trị vượt xa nguy cơ.

Thời kỳ cho con bú:

Chưa có nghiên cứu về sinh sản và nghiên cứu trong thời gian nuôi con bú trên động vật được tiến hành với Yếu tố IX. An toàn của Yếu tố IX đối với phụ nữa mang thai chưa được chứng minh. Vì vậy, chỉ dùng Yếu tố IX cho phụ nữ có thai và nuôi con bú nếu thật cần thiết và lợi ích điều trị vượt xa nguy cơ.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Nếu có bất kỳ tác dụng phụ nào xảy ra, cần dừng ngay tiêm truyền và tiến hành các điều trị các tác dụng phụ đặc biệt.

Phản ứng quá mẫn hoặc dị ứng (có thể bao gồm phù mạch, bốc hỏa, đau nhức tại chỗ tiêm, ớn lạnh, nổi đỏ, mề đay tổng quát, đau đầu, phát ban, tụt áp, lơ mơ, buồn nôn, bồn chồn, tim đập nhanh, khó chịu ở ngực, đau dây thần kinh, nôn, thở khò khè) được quan sát thấy không thường xuyên ở những bệnh nhân dùng sản phẩm chứa yếu tố IX.

Một số trường hợp đã tiến triển thành phản ứng phản vệ nặng và liên quan chặt chẽ về mặt thời gian với sự phát triển của các kháng thể yếu tố IX. Điều trị phụ thuộc vào tính chất và mức độ nặng nhẹ của phản ứng.

Hội chứng hư thận đã được báo cáo sau khi cảm ứng dung nạp miễn dịch thử nghiệm trên những bệnh nhân haemophilia B có kháng thể yếu tố IX và có tiền sử phản ứng dị ứng.

Hiếm có trường hợp phát hiện thân nhiệt tăng.

Những bệnh nhân haemophilia B có thể phát triển kháng thể (chất ức chế) yếu tố IX. Nếu những chất ức chế này xuất hiện, tình trạng sẽ biểu hiện như là một đáp ứng lâm sàng không đầy đủ. Không có báo cáo nào về sự phát triển kháng thể ở những bệnh nhân điều trị với Yếu tố IX.

Có nguy cơ tắc mạch huyết khối sau khi tiêm truyền yếu tố IX, rủi ro tăng lên nếu dùng chế phẩm có độ tinh khiết thấp. Sử dụng sản phẩm yếu tố IX có độ tinh khiết thấp liên quan tới một số trường hợp nhồi máu cơ tim, đông máu rải rác trong lòng mạch, huyết khối tĩnh mạch và tắc mạch phổi. Sử dụng sản phẩm yếu tố IX độ tinh khiết cao hiếm khi dẫn đến các tác dụng phụ như vậy.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Cho đến nay vẫn không có tương tác giữa Yếu tố IX yếu tố IX trong huyết tương người với các thuốc khác được báo cáo.

4.9 Quá liều và xử trí:

Không có triệu chứng quá liều nào do dùng yếu tố IX được báo cáo.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Yếu tố IX là một glucoprotein dạng chuỗi liên kết đơn với tổng số phân tử khoảng 68.000. Nó là một yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin K và được tổng hợp trong gan.

Cơ chế tác dụng:

Yếu tố IX được hoạt hóa nhờ yếu tố XIa ở quá trình đông máu bên trong và thông qua yếu tố VII/phức hợp các yếu tố trong mô ở quá trình bên ngoài. Yếu tố IX được hoạt hóa kết hợp với yếu tố VIII, hoạt hóa yếu tố X. Yếu tố X hoạt hóa chuyển prothrombin thành thrombin. Tiếp đó, thrombin chuyển hóa fibrinogen thành fibrin và cục máu đông được hình thành. Haemophilia B là bệnh rối loạn đông máu di truyền liên quan về giới do lượng yếu tố IX giảm và gây ra xuất huyết trong các khớp, cơ, hoặc các nội tạng một cách tự phát hay là hậu quả sau tai nạn hay trấn thương do phẫu thuật. Bằng các điều trị thay thế, lượng IX trong huyết tương tăng lên, nhờ đó bù đắp tức thời sự thiết hụt yếu tố và điều chỉnh xu hướng xuất huyết.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Tiêm truyền Yếu tố IX cho những bệnh nhân haemophilia B làm khôi phục hơn 70% hoạt tính yếu tố IX trong huyết tương. Thời gian bán hủy của yếu tố IX trong huyết tương thay đổi trong khoảng từ 16-30 giờ, trung bình là 24 giờ.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Glycine, lysine, sodium citrate, sodium phosphate, sodium chloride, polysorbate 80, tri-n-butyl phosphate.

6.2. Tương kỵ :

Yếu tố IX không được trộn với các thuốc khác.

Chỉ sử dụng bộ dụng cụ tiêm/truyền đủ tiêu chuẩn lưu hành với dung dịch hoàn nguyên bởi vì thất bại trong điều trị có thể xảy ra do sự hấp phụ của yếu tố IX với bề mặt bên trong của dụng cụ tiêm truyền không đủ tiêu chuẩn.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản Yếu tố IX trong bóng tối, trong hộp carton, ở nhiệt độ ghi trên vỏ hộp. Không để đóng băng. Không dùng sản phẩm đã hết hạn sử dụng.

Hạn dùng: 36 tháng ở nhiệt độ 2-8oC. Sau khi pha, bảo quản ở 2-25oC và dùng trong vòng 1 giờ. Làm ấm lên 25oC trước khi tiêm truyền.

Bảo quản nước cất pha tiêm ở 2-25°C.

6.4. Thông tin khác :

An toàn tiền lâm sàng

Yếu tố IX đông máu là một thành phần thông thường trong huyết tương người và hoạt động giống như yếu tố IX nội sinh. Các test thử nghiệm ngộ độc do liều trên động vật là không thích đáng vì dùng liều cao hơn sẽ gây quá tải.

Thử nghiệm gây độc do dùng liều lặp lại trên động vật không thể tiến hành được do sự cản trở phát triển các kháng thể đối với protein khác loại. Vì nghiên cứu lâm sàng không đưa ra một bằng chứng nào về khả năng gây ung thư và đột biến gen của yếu tố IX, nên các nghiên cứu thực nghiệm, đặc biệt nghiên cứu ở các loại khác là thực sự không cần thiết.

Nghiên cứu ngộ độc do dùng liều đơn ở thỏ và chuột được thiết lập lớn hơn giới hạn an toàn 20 lần. Test tạo đông máu trên thỏ và chuột không đưa ra bằng chứng nào về khả năng tạo cục máu đông ở liều 200-300 IU/kg thể trọng.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.