Citalopram – Citalopram Bluefish

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Citalopram

Phân loại: Thuốc ức chế tái hấp thu serotonin chọn lọc (SSRIs)

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N06AB04.

Biệt dược gốc:

Biệt dược: Citalopram Bluefish

Hãng sản xuất : Atlantic Pharma- Producoes Farmaceuticas S.A

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén 20 mg.

Thuốc tham khảo:

CITALOPRAM BLUEFISH
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Citalopram …………………………. 20 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Điều trị các giai đoạn trầm cảm nặng.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Citalopram Bluefish nên được uống liều duy nhất, vào buổi sáng hoặc buổi tối. Có thể uống thuốc trong bữa ăn hoặc ngoài bữa ăn, nhưng phải uống cùng với nước.

Ít nhất 2 tuần đầu sau khi bắt đầu điều trị sẽ chưa có tác dụng chống trầm cảm. Phải tiếp tục điều trị cho đến khi bệnh nhân không còn các triệu chứng trong 4-6 tháng. Nên ngừng điều trị Citalopram Bluefish một cách từ từ với liều giảm dần trong vòng 1-2 tuần.

Liều dùng:

Trẻ em và thanh thiếu niên (< 18 tuổi):

Citalopram không được sử dụng cho trẻ em và thanh thiếu niên dưới 14 tuổi.

Người lớn

Liều Citalopram Bluefish khuyên dùng là liều đơn 20 mg/ngay. Phụ thuộc vào sự đáp ứng của từng bệnh nhân mà có thể tăng liều lên đến tối đa 40 mg/ngày.

Người già (> 65 tuổi)

Liều dùng cho bệnh nhân cao tuổi bằng một nửa liều khuyến cáo, là 10 – 20 mg/ngày.Liều khuyến cáo tối đa cho nhóm bệnh nhân này là 20 mg/ngày.

Bệnh nhân suy thận

Không cần thiết phải điều chỉnh liều nếu bệnh nhân chỉ suy thận nhẹ hoặc vừa. Không có thông tin về việc điều trị Citalopram Bluefish cho bệnh nhân suy thận nặng (thanh thải creatinin < 30 ml/phút).

Bệnh nhân suy gan

Liều khởi đầu 10 mg/ngày trong 2 tuần đầu điều trị được khuyến cáo cho những bệnh nhân suy gan nhẹ hoặc vừa. Phụ thuộc vào sự đáp ứng của từng bệnh nhân mà có thể tăng liều Citalopram Bluefish lên đến tối đa 20 mg/ngày. Thận trọng và cực kỳ cẩn thận khi điều chỉnh liều cho những bệnh nhân suy gan nặng.

Bệnh nhân chuyển hóa kém qua men CYP2C19

Liều Citalopram Bluefish khởi đầu 10 mg/ngày trong 2 tuần đầu điều trị được khuyến cáo cho những bệnh nhân chuyển hóa kém qua men CYP2C19. Liều có thể tăng lên tối đa là 20 mg/ngày phụ thuộc vào sự đáp ứng của mỗi bệnh nhân.

Những triệu chứng cai thuốc do ngừng điều trị

Tránh ngừng thuốc một cách đột ngột. Khi ngừng điều trị, liều Citalopram Bluefish nên được giảm một cách từ từ trong vòng 1 đến 2 tuần để hạn chế nguy cơ xảy ra các phản ứng do ngừng thuốc đột ngột. Nếu xảy ra các triệu chứng không dung nạp sau khi giảm liều thì phải xem xét sử dụng lại liều điều trị trước đó. Sau đó, có thể tiếp tục giảm liều nhưng với tốc độ từ từ hơn.

4.3. Chống chỉ định:

Chống chỉ định dùng Citalopram cho bệnh nhân quá mẫn với Citalopram hoặc bất kỳ thành phần nào của thuốc.

Không sử dụng Citalopram Bluefishn với liều hàng ngày không quá 10 mg/ngày. Không sử dụng Citalopram sau 14 ngày ngừng điều trị thuốc MAOI không hồi phục hoặc sau một khoảng thời gian cụ thể khi ngừng điều trị thuốc MAOI có hồi phục (RIMA) như đã nêu trong hướng dẫn sử dụng của thuốc RIMA. Không sử dụng các thuốc MAOI sau 7 ngày ngừng điều trị Citalopram.

Chống chỉ định kết hợp Citalopram với Linezolid trừ khi được theo đối chặt chẽ và được kiểm soát huyết áp.

Chống chỉ định kết hợp Citalopram Bluefish với Pimozide.

Chống chỉ định dùng Citalopram cho những bệnh nhân kéo dài khoảng QT hoặc mắc hội chứng kéo dài khoảng QT bẩm sinh.

Chống chỉ định kết hợp Citalopram với các thuốc khác có tác dụng kéo dài khoảng QT.

4.4 Thận trọng:

Lo lắng nghịch lý: Một số bệnh nhân mắc chứng rối loạn hoảng sợ có thể tăng các triệu chứng lo lắng khi bắt đầu điều trị với thuốc chống trầm cảm. Phản ứng nghịch lý này giảm xuống trong vòng hai tuần đầu điều trị. Dùng liều thấp khởi đầu để giảm tác dụng lo âu nghịch lý.

Tiêu đường

Điều trị với thuốc SSRI có thể làm thay đổi sự kiểm soát đường huyếtở: những bệnh nhân bị tiểu đường. Có thể cần phải điều chỉnh liều của insulin và/hoặc các thuốc hạ đường huyết đường uống.

Động kinh: Cơn động kinh là một nguy cơ tiềm tàng với các thuốc chống trầm cảm. Nên ngưng Citalopram trong bất kỳ bệnh nhân nào có cơn động kinh. Citalopram nên tránh ở những bệnh nhân động kinh không ổn định và những bệnh nhân động kinh đã kiểm soát nên theo dõi cẩn thận. Nên ngưng Citalopram nếu có sự gia tăng tần suất cơn co giật.

Liệu pháp sốc điện (ECT:Electroconvulsive Therapy): Kinh nghiệm lâm sàng còn hạn chế khi sử dụng đồng thời SSRI và ECT, do đó nên thận trọng.

Các thuốc ức chế chọn lọc MAO-A thuận nghịch: Sự kết hợp Citalopram với các chất ức chế MAO-A nói chung là không được khuyến cáo do nguy cơ khởi phát hội chứng serotonin.

Hưng cảm: Ở những bệnh nhân bị bệnh hưng – trầm cảm, có thể thay đổi đến các giai đoạn hưng cảm. Nếu bệnh nhân vào một giai đoạn hưng cảm, nên ngưng Citalopram.

Xuất huyết: Đã có các báo cáo về kéo dài thời gian xuất huyết và/hoặc xuất huyết bất thường như vết bầm xuất huyết, xuất huyết phụ khoa, xuất huyết tiêu hóa và các xuất huyết ở da hoặc niêm mạc khác với SSRI. Cần thận trọng ở những bệnh nhân dùng SSRI, đặc biệt khi sử dụng đồng thời các họat chất được biết là có ảnh hưởng đến chức năng tiểu cầu hoặc các hoạt chất khác có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết, cũng như ở những bệnh nhân có tiền sử các rối loạn xuất huyết.

Hội chứng Serotonin: Trong vài trường hợp hiếm, hội chứng serotonin đã được báo cáo ở những bệnh nhân sử dụng SSRIs. Sự kết hợp của các triệu chứng như kích động, run, co cơ và tăng thân nhiệt có thể xác định tình trạng này. Nên ngưng Citalopram ngay lập tức và điều trị triệu chứng.

Các thuốc có tác đụng trên serotonin: Citalopram không nên sử dụng đồng thời với các thuốc có tác dụng tiết serotonin như sumatriptan hoặc các triptans khác, tramadol, oxitriptan và tryptophan.

Rối loạn tâm thần: Điều trị bệnh nhân tâm thần với các giai đoạn trầm cảm có thể làm tăng các triệu chứng tâm thần.

Sử dụng ở trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi: Citalopram không nên sử dụng để điều trị cho trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi. Các hành vi liên quan đến tự tử (cố gắng tự tử và ý nghĩ tự tử) và thù địch (chủ yếu là hành vi gây hấn, chống đối và tức giận) đã được ghi nhận một cách thường xuyên hơn trong các thử nghiệm lâm sàng ở trẻ em và thanh thiếu niên được điều trị với thuốc chống trầm cảm so với giả dược. Nếu cần điều trị theo nhu cầu lâm sàng, bệnh nhân cần được theo dõi cẩn thận các triệu chứng tự tử. Ngoài ra, hiện không có dữ liệu an toàn trong dài hạn ở trẻ em và thanh thiếu niên về tăng trưởng, trưởng thành, phát triển nhận thức và hành vi.

Tự tử/ý nghĩ tự tử hoặc lâm sàng xấu đi: Trầm cảm liên quan với tăng nguy cơ ý nghĩ tự tử, làm hại bản thân, và tự tử (các biến cố liên quan đến tự tử). Nguy cơ này vẫn còn cho đến khi bệnh thuyên giảm đáng kể. Khi bệnh không thể cải thiện trong vài tuần đầu điều trị, bệnh nhân nên được theo dõi chặt chẽ cho đến khi cải thiện. Nguy cơ tự tử có thể tăng trong giai đoạn đầu hồi phục.

Các tình trạng tâm thần khác khi sử dụng Citalopram cũng có thể có liên quan với tăng nguy cơ của các biến cố liên quan đến tự tử. Ngoài ra, những tình trạng này có thể là bệnh phối hợp với rối loạn trầm cảm nặng. Do đó, các biện pháp đề phòng tương tự được xem xét khi điều trị các bệnh nhân rối loạn trầm cảm nặng bị các rối loạn tâm thần khác.

Bệnh nhân có tiền sử có các biến cố liên quan đến tự tử, hoặc những người có biểu hiện tự tử ở mức độ đáng kể trước khi bắt đầu điều trị có nguy cơ lớn hơn về ý nghĩ tự tử hoặc tự tử, và nên được theo dõi cẩn thận trong giai đoạn điều trị. Một phân tích meta của các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng với giả dược của các thuốc chống trầm cảm trên bệnh nhân trưởng thành bị rối loạn tâm thần cho thấy tăng nguy cơ của hành vi tự tử với thuốc chống trầm cảm so với giả dược ở bệnh nhân dưới 25 tuổi.

Giám sát chặt chẽ bệnh nhân, đặc biệt là những bênh nhân có nguy cơ cao nên điều trị bằng thuốc đặc biệt là trong điều trị sớm và thay đổi liều sau đây. Bệnh nhân (và những người chăm sóc bệnh nhân) nên được cảnh báo về sự cần thiết để theo dõi bất kỳ tình trạng lâm sàng xấu đi, hành vi và ý nghĩ tự tử, hoặc những thay đổi bất thường trong hành vi và cần sự tư vấn y tế ngay lập tức nếu hiện diện những triệu chứng này.

Bồn chồnĐứng ngồi không yên: Việc sử dụng SSRIs/SNRIs có liên quan với chứng nằm ngồi không yên, đặc trưng bởi khó chịu chủ quan hoặc lo lắng bồn chồn và cần di chuyển, thường kèm với không thể ngồi hoặc đứng yên. Những biểu hiện này có thể xảy ra trong vòng vai tuần đầu điều trị. Ở những bệnh nhân có các triệu chứng, việc tăng liều có thể có hại.

Các triệu chứng cai thuốc khi ngưng điều trị SSRI: Triệu chứng cai thuốc khi ngừng điều trị là phổ biến, đặc biệt nếu ngưng đột ngột. Trong một thử nghiệm lâm sàng phòng ngừa tái phát với Citalopram, các biến cố bất lợi sau khi ngưng điều trị tích cực đã được ghi nhận ở 40% bệnh nhân so với 20% ở những bệnh nhân tiếp tục Citalopram.

Nguy cơ của các triệu chứng cai thuốc có thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm cả thời gian và liều điều trị và tốc độ giảm liều. Chóng mặt, rối loạn cảm giác (bao gồm cả dị cảm), rối loạn giấc ngủ (bao gồm cả chứng mất ngủ và những giấc mơ dữ dội), kích động hoặc lo lắng, buồn nôn và/hoặc nôn, run, lú lẫn, toát mồ hôi, nhức đầu, tiêu chảy, đánh trống ngực, rối loạn cảm xúc, kích thích, và rối loạn thị giác là những phản ứng phổ biến nhất đã dược báo cáo.

Nói chung, các triệu chứng này là nhẹ đến trung bình, tuy nhiên, một số bệnh nhân có thể nghiêm trọng. Các triệu chứng này thường xảy ra trong vài ngày đầu ngưng điều trị, nhưng có rất hiếm các báo cáo về các triệu chứng này ở những bệnh nhân đã vô tình quên một liều. Nói chung, các triệu chứng này tự giới hạn và thường hết trong vòng 2 tuần, mặc dù trong một số bệnh nhân có thể kéo dài (2 – 3 tháng hoặc hơn). Do đó, người ta khuyến cáo Citalopram nên giảm dần khi ngưng điều trị trong khoảng thời gian vài tuần hoặc vài tháng, theo nhu cầu của bệnh nhân.

Suy chức năng gan – thận: Thận trọng khi sử dụng điều trị bệnh nhân suy chức năng gan – thận.

Hạ natri máu: Hạ natri máu, có thể là do bài tiết hormon chống bài niệu không thích hợp (SIADH), đã được báo cáo như là một phản ứng bất lợi hiếm gặp khi sử dụng các SSRIs và thường hồi phục khi ngưng điều trị. Bệnh nhân nữ cao tuổi dường như có nguy cơ đặc biệt cao.

Thảo dược St John’s wort (Hypericum perforatum): Tác dụng không mong muốn có thể phổ biến hơn trong khi sử dụng đồng thời Citalopram và các chế phẩm thảo dược có chứa St. John’s wort (Hypericum perforatum). Vì vậy không nên sử dụng đồng thời Citalopram và các chế phẩm St. John’s wort.

Mất ngủ và kích động

Mất ngủ và kích động có thể xảy ra khi bắt đầu điều trị Citalopram. Điều chỉnh liễu có thể làm giảm các triệu chứng này

QT kéo dài:

Citalopram làm kéo đài khoảng QT phụ thuộc liều điều trị, Những trường hợp kéo dài khoảng QTT và loạn nhịp thất bao gầm xoắn đỉnh đã được báo cáo trong quá trình lưu hành thuốc, chủ yếu ở những bệnh nhân nữ bị hạ kali huyết hoặc đã có khoảng QT bị kéo đài trước đấy hoặc mắc các bệnh tim khác.

Thận trọng khi điều trị cho những bệnh nhân có nhịp tìm chậm đáng kể hoặc những bệnh nhân vừa bị nhồi máu cơ tim hoặc suy tim mất bù.

Rối loạn điện giải như hạ kali huyết và hạ magiê huyết làm tăng nguy cơ rối loạn nhịp tìm ác tính. Vì vậy cần phải khôi phục điện giải trước khibắt đầu điều trị với citalopram.

Phải xem xét lại điện tâm đồ trước khi tiến hành điều trị cho bệnh nhân bị bệnh tim ổn định.

Nếu xảy ra các dấu hiệu rối loạn nhịp tim trong khi điều trị với citalopram thì phải ngừng điều trị ngay và tiến hành làm điện tâm đồ.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Citalopram có ảnh hưởng nhẹ hoặc vừa phải đến khả năng điều khiển tàu xe và vận hành máy móc.

Các thuốc ảnh hưởng đến tâm thần có thể làm giảm khả năng đưa ra quyết định và phản ứng lại với những tình trạng khẩn cấp. Bệnh nhân phải được thông báo về những ảnh hưởng này và phải được cảnh báo rằng khả năng lái xe và vận hành máy móc của họ có thể bị ảnh hưởng khi dùng thuốc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: C

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Khối lượng lớn dữ liệu nghiên cứu trên phụ nữ có thai chỉ ra rằng Citalopram không gây độc tính dị dạng cho thai nhi và trẻ sơ sinh. Citalopram có thể được sử dụng trong thời kỳ mang thai nếu lâm sàng cần thiết, có tính đến những khía cạnh được đề cập dưới đây.

Phải theo dõi trẻ sơ sinh nếu người mẹ tiếp tục dùng Citalopram trong những giai đoạn sau của thai kỳ, đặc biệt là trong 3 tháng cuối.. Nên tránh ngưng thuốc đột ngột khi mang thai.

Những dữ liệu dịch tễ học cho thấy rằng việc dùngcác thuốc SSRI cho phụ nữ mang thai, đặc biệt là ở cuối thai kỳ, có thể làm tăng nguy cơ tăng huyết áp phổi kéo dài ở trẻ sơsinh (PPHN). Tỷ lệ nguy cơ được ghi nhận là khoảng 5 trường hợp trên 1000 phụ nữ mang thai. Tính trên tổng dân số thì có 1 đến 2 trường hợp trên 1000 phụ nữ mang thai là trẻ sơ sinh bị tăng huyết áp phối kéo đài,

Những triệu chứng sau có thể xay ra ở trẻ sơ sinh sau khi người mẹ dùng thuốc ức chế chọn lọc tái hấp thu serotonin (SSRIV thuốc ức chế chọn lọc tái hấp thu serotonin và norepinephnin (SNRD trong những giai đoạn cuối của thai kỳ: suy hô hấp, tím tái, ngưng thở, co giật, thân nhiệt không ôn định, khó ăn, nôn, hạ đường huyết, tăng trương lực, giảm trương lực, tăng phản xạ, run, bồn chồn, khó chịu, ngủ lịm, khóc liên tục, ngủ mơ màng và khó ngủ. Nguyên nhân của những triệu chứng này có thể là do các tác dụng trên serotonin hoặc do ngừng thuốc. Trong đa số trường hợp, những triệu chứng này có thể xuất hiện sớm (< 24 giờ) hoặc ngay lập tức sau khi sinh. Chưa đủ thông tin đề đánh giá nguy cơ cho trẻ.

Thời kỳ cho con bú:

Citalopram Bluefish được bài tiết qua sữa mẹ. Ước tính rằng trẻ bú mẹ sẽ nhận khoảng 5% liều hàng ngày mà người mẹ sử dụng tính trên trọng lượng cơ thể (mg/kg). Không có hoặc chỉ có những biến chứng nhẹ được quan sát thấy ở trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, những thông tin hiện có chưa đầy đủ để có thể đánh giá nguy cơ trên trẻ em. Vì vậy khuyến cáo cần phải thận trọng khi cho trẻ bú mẹ.

Khả năng sinh sản

Dữ liệu trên động vật đã chỉ ra rằng citalopram có thể ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng. Những báo cáo trên người khi điều trị với các thuốc SSRI cho‘thay ảnh hưởng trên chất lượng tỉnh trùng là ảnh hưởng có thể hồi phục. Cho đến nay vẫn chưa quan sát thấy những ảnh hưởng trên khả năng sinh sản của người.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Những tác dụng không mong muốn quan sát thay khi điều trị citalopram thường nhẹ và thoáng qua. Những tác dụng phụ này biểu hiện rõ nhất trong vài tuần đầu điều trị và thường giảm khi tình trạng trâm cảm được cai thiện

Các phản ứng có hại của thuốc được phân nhóm theo tần suất, quy ước :như sau: Rất thường gặp (ADR > 1/10), thường gặp (1/100 < ADR < 1/10), ít gặp (1/1000 < ADR < 1/100), hiếm gặp (1/1000 < ADR < 1/10000) và rất hiếm gặp (ADR < 1/10000), không biết (không thể ước tính từ dữ liệu sẵn có).

Rối loạn hệ tạo máu và hạch bạch huyết

Hiếm gặp: Xuất huyết (xuất huyết phụ khoa, xuất huyết tiêu hóa, bầm máu và các dạng xuất huyết dưới da hoặc niêm mạc khác).

Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng

Thường gặp: Giảm cân, tăng cân.

Rối loạn tâm thần

Rất thường gặp: Citalopram Bluefish gây buồn ngủ, mắt ngủ, lo âu, căng thẳng.

Thường gặp: Rối loạn giấc ngủ, mất tập trung, mơ bất thường, giảm trí nhớ, lo lắng, giảm ham muốn tình dục, tăng cảm giác ngon miệng, chán ăn, thờ ơ, lú lẫn.

Ít gặp: Hưng phấn, tăng ham muốn tình dục.

Hiếm gặp: Bồn chồn, đứng ngồi không yên.

Rất hiếm gặp: Ảo giác, hưng cảm, mất nhân cách, cơn hoảng loạn (những triệu chứng này có thể là do các bệnh mắc kèm gây ra).

Chưa rõ: Ý nghĩ/hành vi tự tử (các trường hợp có ý nghĩ tự tử hoặc hành vi tự tử đã được báo cáo trong quá trình điều trị hoặc ngay sau khi kết thúc điều trị với Citalopram).

Rối loạn hệ thần kinh

Rất thường gặp: Đau đầu, run, chóng mặt.

Thường gặp: Đau nửa đầu, dị cảm.

Ít gặp: Rối loạn ngoại tháp, co giật.

Rối loạn thị giác

Rất thường gặp: Citalopram Bluefish làm mắt khó điều tiết.

Thường gặp: Giảm thị lực.

Rối loạn tai và tai trong

Ít gặp: Ù tai

Rối loạn tim

Rất thường gặp: Đánh trống ngực.

Thường gặp: Nhịp tim nhanh.

Ít gặp: Citalopram Bluefish khiến nhịp tim chậm.

Hiếm gặp: Loạn nhịp thất và trên thất.

Chưa rõ: Loạn nhịp thất bao gồm xoắn đỉnh.

Rối loạn mạch

Thường gặp: Hạ huyết áp tư thế, hạ huyết áp, tăng huyết áp.

Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất

Thường gặp: Viêm mũi, viêm xoang.

Ít gặp: Ho.

Rối loạn tiêu hóa

Rất thường gặp: Buồn nôn, khô miệng, táo bón, tiêu chảy.

Sử dụng Citalopram Bluefish thường gặp: Khó tiêu, nôn, đau bụng, đầy hơi, tăng tiết nước bọt.

Rối loạn gan mật

Ít gặp: Tăng men gan

Rối loạn da và mô dưới da

Rất thường gặp: Tăng tiết mồ hôi.

Thường gặp: Phát ban, ngứa.

Ít gặp: Nhạy cảm với ánh sáng.

Hiếm gặp: Phù mạch.

Rối loạn cơ xương và mô liên kết

Ít gặp: Đau cơ.

Rất hiếm gặp: Đau khớp.

Rối loạn thận và tiết niệu

Thường gặp: Rối loạn tiết niệu, đa niệu.

Hiếm gặp: Giảm natri huyết và hội chứng tiết hormon chống lợi tiểu không phù hợp (SIADH), chủ yếu là ở người cao tuổi.

Rối loạn hệ sinh sản và vú

Thường gặp: Rối loạn xuất tinh, trì hoãn hoặc ức chế đạt khoái cảm ở phụ nữ, đau bụng kinh, liệt dương.

Rất hiếm gặp khi sử dụng Citalopram Bluefish là: Tiết sữa bất thường ở đàn ông và phụ nữ.

Rối loạn toàn thân

Rất thường gặp: Suy nhược.

Thường gặp: Mệt mỏi, ngáp, vị giác bất thường.

Không thường gặp: Phản ứng dị ứng, ngất, chóng mặt.

Hiếm gặp: Hội chứng Serotonin.

Rất hiếm gặp: Phản ứng phản vệ.

(1)Các trường hợp kép dài QT và loạn nhịp thất bao gồm xoắn đỉnh đã được báo cáo trong thời kỳ lưu hành thuốc, chủ yếu là ở bệnh nhân nữ, với tình trạng hạ kali máu, hoặc có tiền xử kéo dài khoảng QT trước đây hoặc mắc các bệnh tim mạch khác.

(2)Các trường hợp liên quan tới ý định và hành vi tự tử đã được báo cáo trong suốt quá trình điều trị với citalopram hoặc trước sau ngưng điều trị.

Các nghiên cứu dịch tễ học, chủ yếu tiến hành ở bệnh nhân từ 50 tuổi trở lên, cho thấy nguy cơ gãy xương gia tăng ở những bệnh nhân dùng SSRIs và TCAs. Cơ chế dẫn đến nguy cơ này là chưa biết.

Các triệu chứng lệ thuộc thuốc được thấy khi ngưng điều trị SSRI: ngưng điều trị citalopram (đạc biệt là ngưng điều trị đột ngột) thường dẫn đến các các triệu chứng lệ thuộc thuốc. Chóng mặt, rối loạn cảm giác (bao gồm mất ngủ), rối loạn giấc ngủ (bao gồm mất ngủ và những cơn ác mộng), kích động hoặc lo lắng, buồn nôn hoặc nôn, run, nhầm lẫn, đổ mồ hôi, nhức đầu, tiêu chảy, đánh trống ngực, khó chịu, rối loạn thị giác là các triệu chứng thông thường nhất đươc báo cáo. Nói chung, những triệu chứng này từ nhẹ đến trung bình và tự giới hạn, tuy nhiên ở một số bệnh nhân có thể bị nặng hoặc kéo dài. Vì vậy, khi không cần thiết điều trị bằng citalopram, nên ngừng thuốc từ từ theo liều giảm dần

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Các tương tác dược lực học:

Ở mức độ dược động học các trường hợp hội chứng serotonin với Citalopram và moclobemide và buspirone đã được báo cáo.

Các kết hợp chống chỉ định:

Ức chế MAO: Việc sử dụng đồng thời Citalopram và ức chế MAO có thể dẫn đến các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng, kể cả hội chứng serotonin.

Các trường hợp phản ứng nghiêm trọng và đôi khi gây tử vong đã được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị SSRI kết hợp với thuốc ức chế monoamine oxidase (MAOI), bao gồm các MAOI không thuận nghịch selegillin và MAOI thuận nghịch linezolid và moclobemide và ở những bệnh nhân đã ngưng SSRI gần đây và đã được bắt đầu với một MAOI.

Một số trường hợp có các biểu hiện tương tự như hội chứng serotonin. Các triệu chứng tương tác của hoạt chất với MAOI bao gồm: kích động, run, co cơ, và tăng thân nhiệt.

Pimozid: Sử dụng đồng thời một liều đơn 2mg pimozid cho các đối tượng được điều trị với racemic Citalopram 40 mg/ngày trong 11 ngày làm tăng AUC và Cmax của pimozid, mặc dù không nhất quán trong nghiên cứu. Sử dụng đồng thời pimozid và Citalopram làm tăng khoảng thời gian QTc trung bình khoảng 10 mili giây. Do sự tương tác đã lưu ý ở một liều thấp pimozid, sử dụng đồng thời Citalopram và pimozid là chống chỉ định.

Các kết hợp cần thận trọng:

Selegillin (chất ức chế chọn lọc MAO-B): Một nghiên cứu tương tác dược động học/dược lực học với việc sử dụng đồng thời Citalopram (20mg mỗi ngày) và selegillin (10mg mỗi ngày) (một chất ức chế chọn lọc MAO-B) đã chứng minh không có tương tác có liên quan về mặt lâm sàng. Việc sử dụng đồng thời Citalopram và selegillin (với liều trên 10mg mỗi ngày) là không được khuyến cáo.

Các thuốc tiết serotonin:

Lithium và tryptophan: Không có tương tác dược lực học đã được tìm thấy trong các nghiên cứu lâm sàng, trong đó Citalopram đã được dùng đồng thời với lithium. Tuy nhiên, đã có các báo cáo tăng tác dụng khi sử dụng SSRIs với lithium hoặc tryptophan và do đó việc sử dụng đồng thời Citalopram với các thuốc này phải thận trọng. Theo dõi định kỳ nồng độ lithium nên được tiếp tục như thường lệ.

Sử dụng đồng thời với các thuốc tiết serotonin (như tramadol, sumatriptan) có thể dẫn đến tăng tác dụng liên quan đến 5-HT.

Cho đến khi có nhiều nghiên cứu mới, việc sử dụng đồng thời của Citalopram và các thuốc chủ vận 5-HT, như sumatriptan và các triptans khác là không được khuyến cáo.

St. John’s wort: Tương tác động giữa các SSRI và thảo dược St. John’s wort (Hypericum perforatum) có thể xảy ra, dẫn đến tăng tác dụng không mong muốn. Tương tác dược động học chưa được điều tra.

Xuất huyết: Thận trọng ở các bệnh nhân đang được điều trị đồng thời với các thuốc chống đông máu, các thuốc ảnh hưởng đến chức năng tiểu cầu, như thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs), axit acetylsalicylic, dipyridamol, ticlopidin hoặc các thuốc khác (như thuốc chống loạn thần không điển hình, các phenothiazin, thuốc chống trầm cảm ba vòng) có thể làm tăng nguy cơ xuất huyết.

ECT (liệu pháp điện co giật): Chưa có nghiên cứu lâm sàng xác lập các nguy cơ hoặc lợi ích của việc sử dụng kết hợp ECT và Citalopram.

Rượu: Không có tương tác dược động học hoặc dược lực học đã được chứng minh giữa Citalopram và rượu. Tuy nhiên, không nên kết hợp Citalopram và rượu.

Các thuốc gây QT kéo dài hoặc hạ kali máu/hạ magne máu: Cần thận trọng khi sử dụng đồng thời thuốc kéo dài khoảng QT hoặc các loại thuốc làm hạ kali máu/hạ magne máu khác do chúng, cũng như Citalopram, có khả năng làm kéo dài khoảng QT.

Các thuốc làm giảm ngưỡng động kinh: SSRI có thể làm giảm ngưỡng động kinh, cần thận trọng khi dùng đồng thời các thuốc có khả năng hạ thấp ngưỡng động kinh (như các thuốc chống trầm cảm 3 vòng, SSRIs, thuốc an thần (phenothiazin, thioxanthenes và butyrophenones), mefloquin, bupropion và tramadol).

Desipramin, imipramin: Trong một nghiên cứu dược động học đã được chứng minh không có ảnh hưởng trên nồng độ cả Citalopram và imipramin, mặc dù nồng độ của desipramin, chất chuyển hóa chính của imipramin được tăng lên. Khi desipramin được kết hợp với Citalopram làm tăng nồng độ desipramin huyết tương, cần giảm liều desipramin.

Các thuốc an thần:Kinh nghiệm với Citalopram đã không cho thấy có bất kỳ sự tương tác lâm sàng nào liên quan vơi thuốc an thần. Tuy nhiên, như với SSRI khác, không loại trừ khả năng tương tác dược động học.

Tương tác dược động học:

Citalopram chuyển hóa thành demethyl citalopram qua trung gian CYP2C19 (khoảng 38%), CYP3A4 (khoảng 31%) và CYP2D6 (khoảng 31%) những enzym đồng phân của hệ cytochrome P450. Thực chất Citalopram được chuyển hóa bởi nhiều hơn môt CYP có nghĩa là việc ức chế chuyển hóa của nó ít hơn việc ức chế của một enzym có thể được bù trừ bởi một enzym khác. Vì vậy, sử dụng đồng thời Citalopram với các thuốc khác trong thực hành lâm sàng có rất ít khả năng gây tương tác dược động học.

Thực phẩm: Sự hấp thu và các đặc tính dược động học khác của Citalopram không được báo cáo là bị ảnh hưởng bởi thức ăn.

Ảnh hưởng của các thuốc khác trên dược động học của Citalopram:

Sử dụng đồng thời với ketoconazole (chất ức chế CYP3A4 mạnh) không làm thay đổi dược động học của Citalopram.

Một nghiên cứu tương tác dược động học của lithium và Citalopram không cho thấy bất kỳ tương tác dược động học nào.

Cimetidin: Cimetidine, một chất ức chế enzyme đã được biết, gây tăng nhẹ nồng độ trung bình ở trạng thái ổn định của Citalopram. Cần thận trọng khi sử dụng Citalopram liều cao trong kết hợp với cimetidine liều cao. Sử dụng đồng thời esCitalopram (enantiomer hoạt hóa của Citalopram) với 30mg omeprazole một lần mỗi ngày (một chất ức chế CYP2C19) dẫn đến tăng nồng độ trung bình trong huyết tương của esCitalopram (khoảng 50%). Vì vậy, cần thận trọng khi dùng đồng thời với các thuốc ức chế CYP2C19 (như omeprazole, esomeprazol, fluvoxamin, lansoprazol, ticlopidin) hoặc cimetidin. Giảm liều của Citalopram có thể là cần thiết dựa trên việc theo dõi các tác dụng không mong muốn trong thời gian điều trị đồng thời.

Metoprolol: EsCitalopram (enantiomer hoạt hóa của Citalopram) là một chất ức chế enzym CYP2D6. Cần thận trọng khi sử dụng đồng thời Citalopram với các thuốc chủ yếu được chuyển hóa bởi enzym này, và có phạm vi điều trị hẹp, ví dụ như flecainid, propafenon, và metoprolol (khi được sử dụng trong suy tim) hoặc một số thuốc hoạt động trên hệ thần kinh trung ương được chuyển hóa chủ yếu bởi CYP2D6, như các thuốc chống trầm cảm như desipramine, clomipramine, nortriptyline hoặc các thuốc chống loạn thần như risperidon, thioridazin và haloperidol. Điều chỉnh liều có thể được phép. Sử dụng đồng thời với metoprolol làm tăng gấp đôi nồng độ của metoprolol trong huyết tương, nhưng tăng tác dụng của metoprolol trên huyết áp và nhịp tim là không có ý nghĩa thống kê.

Ảnh hưởng của Citalopram trên các thuốc khác:

Một nghiên cứu tương tác dược lực học/dược động học với việc sử dụng đồng thời Citalopram và metoprolol (một chất nền CYP2D6) cho thấy làm tăng gấp đôi nồng độ metoprolol, nhưng tăng tác dụng của metoprolol trên huyết áp và nhịp tim là không có ý nghĩa thống kê ở người tình nguyện khỏe mạnh.

Citalopram và demethyl citalopram là những chất ức chế không đáng kể của CYP2C9, CYP2E1 và CYP3A4, và chỉ ức chế yếu của CYP1A2, CYP2C19, CYP2D6 so với các SSRI khác được xác định là các chất ức chế mạnh.

Levomepromazine, digoxin, carbamazepin: Do không thay đổi hoặc chỉ thay đổi rất nhỏ không quan trọng về lâm sàng đã được ghi nhận khi sử dụng Citalopram với các chất nền CYP1A2 (clozapine và theophylline), CYP2C9 (warfarin); CYP2C19 (imipramin và mephenytoin), CYP2D6 (sparteine, imipramin, amitriptylin, risperidon) và CYP3A4 (warfarin, carbamazepin (và chất chuyển hóa epoxid carbamazepine) và triazolam). Không có tương tác dược động học giữa Citalopram và levomepromazin, hoặc digoxin, (xác định Citalopram không gây ra cũng không ức chế P-glycoprotein).

4.9 Quá liều và xử trí:

Độc tính: Dữ liệu lâm sàng toàn diện về quá liều Citalopram bị hạn chế và nhiều trường hợp liên quan đến quá liều khi dùng chung với thuốc khác/rượu. Các trường hợp tử vong do quá liều Citalopram đã được báo cáo với Citalopram đơn độc, tuy nhiên, phần lớn các trường hợp tử vong có liên quan đến quá liều với các thuốc dùng đồng thời.

Liều gây tử vong chưa được biết. Nhiều bệnh nhân đã sống sót sau khi uống hơn 2g Citalopram.

Các ảnh hưởng có thể tăng do dùng cùng với rượu.

Tương tác tiềm ẩn với TCAs, MAOIs và SSRI khác.

Triệu chứng: Các triệu chứng sau đây đã ghi nhận trong báo cáo quá liều của Citalopram: Co giật, nhịp tim nhanh, buồn ngủ, QT kéo dài, hôn mê, nôn mửa, run, hạ huyết áp, ngừng tim, buồn nôn, hội chứng serotonin, kích động, nhịp tim chậm, chóng mặt, block nhánh bó, QRS kéo dài, tăng huyết áp, giãn đồng tử, xoắn đỉnh de pointes, sững sờ, tiết mồ hôi, tím tái, tăng thông khí, sốt cao, và rối loạn nhịp nhĩ và thất.

Thay đổi trên ECG bao gồm cả nhịp nút, có thể khoảng QT kéo dài và phức hợp QRS rộng. Tử vong được báo cáo.

Nhịp tim chậm kéo dài với hạ huyết áp nặng và ngất cũng đã được báo cáo.

Hiếm khi, các biểu hiện của “Hội chứng serotonin” có thể xảy ra trong nhiễm độc nặng, bao gồm thay đổi trạng thái tâm thần, thần kinh cơ hoạt động thái quá và mất ổn định tự động. Có thể có sốt cao và tăng nồng độ creatine kinase huyết thanh. Hủy cơ vân hiếm gặp.

Điều trị: Không có thuốc giải độc đặc hiệu cho Citalopram.

Điều trị triệu chứng và hỗ trợ và bao gồm duy trì thông khí tốt, theo dõi điện tâm đồ và các dấu hiệu sinh tồn cho đến khi ổn định.

Cân nhắc dùng than hoạt tính ở người lớn và trẻ em đã uống hơn 5 mg/kg trọng lượng cơ thể trong vòng 1 giờ. Dùng than hoạt tính ½ giờ sau khi uống Citalopram đã được chứng minh là làm giảm hấp thu 50%.

Nhuận tràng thẩm thấu (như natri sulfat) và rửa dạ dày nên được cân nhắc.

Đặt nội khí quản nếu bệnh nhân giảm ý thức.

Kiểm soát co giật bằng diazepam đường tĩnh mạch nếu co giật thường xuyên hoặc kéo dài.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Nhóm dược lý điều trị: Thuốc chống trầm cảm.

Mã ATC: N06AB04.

Citaiopram là một thuốc chống trầm cảm có tác dụng ức chế mạnh và chọn lọc trên sự hấp thu 5- hydroxytryptamin (5-HT, serotonin).

Cơ chế tác dụng và tác dụng được lực học

Khả năng dung nạp tác dụng ức chế sự hấp thu 5-HT củacitalopram không xảy ra khi điều trị lâu dài.

Tác dụng chống trầm cảm có thể liên quan đến sự ức chế cụ thể sự hấp thu serotonin ở các tế bào thần kinh não.

Citalopram hầu như không ảnh hưởng đến sự hấp thu noradrenalin, dopamin va gamma-aminobutyric acid của tế bào thần kinh. Citalopram khéng có ái lực hoặc có ái lực rât yếu với các thy thé cholinergic, histaminergic, adrenergic, serotonergic va dopaminergic.

Citalopram là dẫn xuất isobenzophuran hai vòng, về mặt hóa học không liên quan đến thuốc chống trầm cảm ba vòng và bốn vòng hay thuốc chống trầm cảm hiện có khác. Các chất chuyển hóa chính của citalopram cũng ức chế có chọn lọc sự thu hồi serotonin ở mức thấp hơn. Các chất chuyển hóa khác không được báo cáo có tác dụng chống trầm cảm.

Cơ chế tác dụng:

Ngược lại với các thuốc chống trầm cảm ba vòng và một số các SSRIs mới, Citalopram không có hoặc có ái lực rất thấp với một loạt các thụ thể bao gồm các thụ thể 5-HT 1A, 5- HT2, DA D1 và D2, α1-, α2-, α-adrenoceptors, histamin H1, muscarine cholinergic, benzodiazepin, và các thụ thể opioid. Một loạt các thử nghiệm in vivo chức năng trong các cơ quan cách ly cũng như thử nghiệm in vivo chức năng đã xác nhận thiếu áp lực thụ thể. Việc không có ảnh hưởng lên các thụ thể có thể giải thích lý do tại sao Citalopram ít gây ra các tác dụng phụ thường gặp như khô môi, rối loạn bàng quang và ruột, mờ mắt, buồn ngủ, độc tính trên tim và hạ huyết áp tư thế.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu:

Hấp thu gần như hoàn toàn và phụ thuộc vào lượng thức ăn (thời gian trung bình tối đa/trung bình là 3.8 giờ), sinh khả dụng đường uống khoảng 80%.

Phân bố:

Thể tích hấp thu biểu kiến (Vd) khoảng 12.3 L/kg. Dưới 80% Citalopram và các chất chuyển hóa của nó gắn kết với protein huyết tương

Chuyển hóa:

Citalopram được chuyển hóa thành demethylcitalopram, didemethylcitalopram, citalopram-N-oxide va dẫn chất khử amin của acid propionic. Dan chat cua acid propionic không có tác dụng dược lý.

Demethylcitalopram, didemethylcitalopram và citalopram-N-oxide là cũng là các chất ức chế chọn lọc tái hấp thu serotonin nhưngở mức độ yếu hơn so với Citalopram.

Enzym chuyển hóa chính là CYP2C19, ngoài ra còn có thể có sự tham gia của CYP3A4 và CYP2D6.

Thải trừ:

Thời gian bán thải (T½) là khoảng 1.5 ngày và độ thanh thải Citalopram toàn cơ thể (CLs) là khoảng 0.33 L/phút, và độ thanh thải đường uống (Cl oral) là khoảng 0,41 L/phút.

Citalopram được bài tiết chủ yếu qua gan (85%) và phần còn lại (15%) qua thân. Khoảng 12% liều hàng ngày được bài tiết trong nước tiểu là Citalopram dạng không đổi. Độ thanh thải của gan (còn lại) là khoảng 0.35 L/phút và độ thanh thải của thận là khoảng 0.068 L/phút.

Động học là tuyến tính. Nồng độ ổn định trong huyết tương đạt được trong 1 – 2 tuần. Nồng độ trung bình là 250 nmol/L (100 – 500 nmol/L) đạt được ở liều hàng ngày 40mg. Không có mối quan hệ rõ ràng giữa nồng độ Citalopram huyết tương với đáp ứng điều trị và các tác dụng không mong muốn.

Nhóm bệnh nhân đặc biệt

Người già

Ở những bệnh nhân cao tuổi, thời gian bán thải trong huyết tương sẽ lâu hơn và độ thanh thải sẽ thấp hơn do giảm chuyên hóa.

Bệnh nhân suy gan

Citalopram thải trừ chậm hơn ở những bệnh nhân bị suy giảm chức năng gan. Thời gian bán thải trong huyết tương của citalopram và nồng độ huyết tương ở trạng tháiồn địnhở bệnh nhân suy gan gấp khoảng 2 lần so với bệnh nhân có chức năng gan bình thường.

Bệnh nhân suy thận

Citalopram thải trừ chậm hơn ở những bệnh nhân bị suy giảm chức năng thận nhẹ và vừa nhưng không ảnh hưởng lớn đến dược động học của citalopram. Không có thông tin về việc điều trị citalopram cho bệnh nhân suy thận nặng (thanh thải creatinin < 30 ml/phút).

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

….

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam