Thông tin chung của thuốc kết hợp Artemisinine + Piperaquine
Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc kết hợp Artemisinine + Piperaquine (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Artemisinine + Piperaquine
Phân loại: Thuốc chống sốt rét
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): P01BE01.
Biệt dược gốc:
Thuốc Generic: CV Artequick Viên sốt rét
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nén Artemisinin 62,5mg; Piperaquin 375mg.
Thuốc tham khảo:
| CV ARTEQUICK VIÊN SỐT RÉT | ||
| Mỗi viên nén có chứa: | ||
| Artemisinin | …………………………. | 62,5mg |
| Piperaquin | …………………………. | 375 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Artemisinine + Piperaquine được sử dụng để điều trị sốt rét.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Dùng đường uống.
Liều dùng:
Đối với người lớn: 2 viên vào thời điểm ngày đầu tiên (D0) và 2 viên lúc 24 giờ sau đó, tổng liều 4 viên;
Đối với trẻ em, liều dùng theo nhóm tuổi dưới đây:
| Tuổi (năm) | 0 giờ | 24 giờ |
| ≥ 16 | 2 | 2 |
| 11-15 | 1½ | 1½ |
| 7-10 | 1 | 1 |
Hoặc nếu dùng theo đối chiếu tuổi và trọng lượng cơ thể, dựa vào bảng dưới đây:
| Tuổi/ Trọng lượng cơ thể (kg) | 0 giờ | 24 giờ |
| 5-6 tuổi (< 18 kg) | 0.5 | 0.5 |
| 7-10 tuổi (≥ 18 – < 26 kg) | 1 | 1 |
| 11-14 tuổi (≥ 26-< 36 kg) | 1½ | 1½ |
| ≥15 tuổi (≥36 kg) | 2 | 2 |
4.3. Chống chỉ định:
Thuốc chống chỉ định trong trường hợp bệnh nhân bị dị ứng hoặc tăng mẫn cảm với các thành phần của thuốc.
Phụ nữ có thai 3 tháng đầu
4.4 Thận trọng:
Artemisinin được biết gây độc cho phôi thai giai đoạn sớm ở các nghiên cứu thực nghiệm trên động vật nhưng hiện chưa có dữ liệu nào đề cập liên đới đến phụ nữ mang thai 3 tháng đầu.
Dữ liệu lâm sàng sau 3 tháng đầu thai kỳ cho biết không có tác dụng ngoại ý.
Cần khám mắt trước khi dùng thuốc dài ngày và theo dõi trong suốt quá trình điều trị.
Chú ý những người có bệnh về gan và thận hoặc có vấn đề về chuyển hóa porphyrin, bệnh vảy nến, tiền sử động kinh.
Nếu thấy có những rối loạn máu nặng trong khi đang điều trị thì ngừng thuốc ngay.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Cần thận trọng khi sử dụng cho các đối tượng lái xe và vận hành máy móc.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: NA
US FDA pregnancy category: NA
Thời kỳ mang thai:
Tránh sử dụng thuốc cho phụ nữ mang thai (nhất là 3 tháng đầu thai kỳ) và phụ nữ cho con bú trừ trường hợp cần thiết do bác sỹ chỉ định.
Thời kỳ cho con bú:
Tránh sử dụng thuốc cho phụ nữ mang thai (nhất là 3 tháng đầu thai kỳ) và phụ nữ cho con bú trừ trường hợp cần thiết do bác sỹ chỉ định.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Buồn nôn, nôn mửa được phát hiện trong khi bệnh nhân dùng thuốc bụng đói, nhưng nếu có tỷ lệ rất thấp chỉ thấp hơn 3%.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Artemisinin có thể phối hợp với các thuốc chống sốt rét khác, đặc biệt là với mefloquin hoặc với sulfadoxin và pyrimethamin; tác dụng hiệp đồng giữa artemisinin và mefloquin hoặc tetracyclin cả trên in vitro với P.falciparum và in vivo với P.berghei. Sự phối hợp giữa artemisinin với cloroquin hoặc cloroquin với pyrimethamin có tính chất đối kháng in vitro chống lại P. falciparum.
4.9 Quá liều và xử trí:
Trong trường hợp quá liều, cần điều trị khấn cấp theo triệu chứng nhiễm độc ở các phòng cấp cứu chuyên khoa. Chưa có thuốc giải độc đặc hiệu.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Artemisinine + Piperaquine, một phối hợp thuốc sốt rét bao gồm thành phần artemisinin và piperaquine, gần đây được xem là một phối hợp thuốc lý tưởng trong điều trị bệnh sốt rét, đặc biệt điều trị và xử lý chống kháng với các trường hợp Plasmodium falciparum kháng thuốc. Để đạt được một thuốc lý tưởng như vậy, thuốc đó phải hội đủ các tiêu điểm sau: tác động lên ký sinh trùng nhanh (Quick action), hiệu lực và ngăn ngừa kháng thuốc cao (High efficacy and Prevention of resistance), độc tính thấp (Low toxicity), liệu trình điều trị ngắn ngày (Short treatment regimen)và đặc biệt giúp giảm lan truyền bệnh (Block transmission).
Về đặc điểm tác động lên ký sinh trùng sốt rét nhanh: qua nhiều kết quả nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng tại Trung Quốc, Việt Nam, Cambodia, Indonesia và Thái Lan cho thấy rằng thuốc Artemisinine + Piperaquine kiểm soát hay nói đúng hơn là khống chế triệu chứng và dấu chứng sốt rét do P.falciparum và P.vivax nhanh chóng. Thời gian cắt sốt (FCT_Fever Clearance Time) chỉ từ 16 -30 giờ và thời gian sạch ký sinh trùng (PCT_Parasite Clearance Time từ 36 -60 giờ). Thuốc Artemisinine + Piperaquine làm ngừng sự phát triển ký sinh trùng trong vòng 2 giờ và hơn 95% lượng ký sinh trùng sốt rét bị tiêu diệt trong vòng 24 giờ. Từ ưu điểm tác động nhanh như thế, thuốc Artemisinine + Piperaquine giảm tỷ lệ mắc bệnh và đặc biệt là giảm tỷ lệ tử vong do P.falciparum đáng kể.
Hiệu lực cao và ngăn ngừa kháng thuốc: hoặc làm chậm quá trình kháng thuốc diễn ra: nhiều nghiên cứu lâm sàng cho thấy thuốc Artemisinine + Piperaquine cho tỷ lệ chữa khỏi cao trong những vùng sốt rét do P.falciparum đa kháng thuốc. Thử nghiệm in vivo theo dõi 28 ngày cho biết tỷ lệ chữa khỏi (cure rate) lên đến 97% và tỷ lệ tái phát sớm (recrudescence rate) chỉ 3%. Sự phối hợp artemisinin với piperaquine làm trì hoãn quá trình phát triển kháng thuốc, nhất là của ký sinh trùng P.falciparum. Phối hợp này cũng có hiệu lực cao trong sốt rét do P.vivax, nhiều kết quả thử nghiệm lâm sàng đối với sốt rét do P.vivax này cho biết tỷ lệ tái phát (relapse) chỉ 2% sau một tháng theo dõi.
Độc tính thấp: quả thật thuốc artemisinine và dẫn suất từ lâu được biết đến là thuốc điều trị sốt rét có hiệu lực cao và an toàn cao, ngay cả phụ nữ mang thai và trẻ em nhỏ. Nay các thuốc phối hợp dựa trên nền tảng artemisinine hoặc dihydroartemisinine một lần nữa khẳng định thuốc rất an toàn trong điều trị: tác tác dụng ngoại ý trên lâm sàng chỉ một số trường hợp như buồn nôn, nôn, chóng mặt, đau bụng nhẹ, tiêu chảy xảy ra 0-3% trường hợp. Không thấy bất thường nào về kết quả cận lâm sàng huyết học và sinh hóa hoặc điện tâm đồ (ECG_Electrocardiogram) trong khi theo dõi điều trị ở liều cho phép.
Liệu trình điều trị ngắn ngày: thuốc Artemisinine + Piperaquine dùng chỉ có 2 liều, liều đầu vào thời điểm 0 giờ và liều thứ 2 thời điểm 24 giờ sau đó.
Thuốc tập trung chọn lọc vào tế bào nhiễm ký sinh trùng và ức chế chọn lọc, riêng biệt enzym PfAT-Pase6 của ký sinh trùng. Cầu nối endoperoxid của sesquiterpen lacton trong phân tử artemisinin và dẫn xuất tạo phức với ion sắt (II) sinh ra gốc tự do có carbon trung tâm liên kết chọn lọc với PfATP6. Desoxyartemisinin không có cầu nối endoperoxid, không ức chế PfATPase6 nên không có tác dụng diệt ký sinh trùng sốt rét. Cơ chế tác dụng của artemisinin và dẫn chất không liên quan đến cơ chế phản ứng với haem như cloroquin.
Cơ chế tác dụng:
Thuốc tập trung chọn lọc vào tế bào nhiễm ký sinh trùng và ức chế chọn lọc, riêng biệt enzym PfAT-Pase6 của ký sinh trùng. Cầu nối endoperoxid của sesquiterpen lacton trong phân tử artemisinin và dẫn xuất tạo phức với ion sắt (II) sinh ra gốc tự do có carbon trung tâm liên kết chọn lọc với PfATP6. Desoxyartemisinin không có cầu nối endoperoxid, không ức chế PfATPase6 nên không có tác dụng diệt ký sinh trùng sốt rét. Cơ chế tác dụng của artemisinin và dẫn chất không liên quan đến cơ chế phản ứng với haem như cloroquin.
Piperaquine là một thuốc sốt rét cổ điển dạng bisquinoline ,Cơ chế tác động chính xác của Piperaquine vẫn còn chưa biết, Tuy nhiên Giống như chloroquine, piperaquine được cho là hoạt động bằng cách tích lũy trong không bào tiêu hóa ký sinh trùng và can thiệp vào việc giải độc heme thành hemozoin.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Artemisinin: Sau khi uống, artemisinin hấp thu nhanh, nồng độ đỉnh đạt được trong huyết tương trong vòng 3 giờ. Sự hấp thu qua trực tràng của hỗn dịch trong nước kém và thay đổi so với dùng uống hoặc tiêm bắp dung dịch dầu. Sau khi đặt hậu môn, liều 10 mg/kg ở người, nồng độ trong máu của artemisinin là 8,6 nanogam/ml sau 30 phút, và đạt tới nồng độ tối đa trong máu khoảng 110 nanogam/ml 6 giờ sau khi dùng thuốc. Sau khi tiêm bắp, artemisinin hấp thu chậm hơn chút ít so với khi uống hoặc tiêm tĩnh mạch, thời gian bán thải là 3,85 – 5,38 giờ. Nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được khoảng 2 giờ sau khi dùng. Sau khi tiêm tĩnh mạch artemisinin cho chuột, thấy một lượng đáng kể chất này trong não, chứng tỏ thuốc đi qua được hàng rào máu – não. Điều này có thể minh chứng cho tác dụng của artemisinin đối với sốt rét thể não.
Artemisinin liên kết mạnh với protein huyết tương và với hồng cầu (hemoglobin). Sự liên kết với protein huyết tương ở người là 64%. Thuốc phân bố rất rộng vào cơ thể với thể tích phân bố ở chuột cống trắng là 1,1 lít/kg. Thực nghiệm cho thấy gan là nơi chuyển hóa chính của artemisinin. Artemisinin bị thủy phân nhanh trong cơ thể thành chất chuyển hóa còn hoạt tính là dihydroartemisinin (arterimol). Artemisinin chuyển hóa thành chất không hoạt tính thông qua enzym cytocrom P450 CYP2B6 và các enzym khác. Người uống artemisinin sẽ cho 4 chất chuyển hóa là deoxyartemisinin, deoxydihydroartemisinin, dihydroxydihydroartemisinin và một chất được gọi là crystal – 7 có thể phân lập được ở nước tiểu. Các chất này đều không có nhóm peroxid và đều không còn hoạt tính trên ký sinh trùng. 80% liều dùng được thải qua phân và nước tiểu trong vòng 24 giờ. Sau khi tiêm tĩnh mạch cho chuột cống trắng và thỏ, thời gian bán thải trong huyết tương của artemisinin khoảng 30 phút, còn của dihydroartemisinin là 5 – 21 giờ. Chỉ một lượng rất nhỏ artemisinin được thải nguyên dạng qua nước tiểu.
Piperaquine : Thuốc hòa tan trong lipid cao với thể tích phân phối lớn, sinh khả dụng của thuốc ổn định, thời gian bán hủy thải trừ dài (long elimination half-life) và hệ số thanh thải (clearance) ở trẻ em cao hơn đáng kể so với người lớn.
Những con chuột cái Sprague-Dawley được cho dùng thuốc piperaquine dạng nhũ dịch đường uống hoặc truyền tĩnh mạch thời gian ngắn. Đánh giá dược lực học là lấy máu tĩnh mạch thường sau 90 giờ uống thuốc. Nước tiểu, phân và mậtđược lấy mẫu sau khi truyền tĩnh mạch cho chuột để xem xét chất chuyển hóa hoặc trong chuột đã gây mê. Đặc tính dược lực học được thực hiện bằng mô hình phân tích ngăn khoang và không ngăn khoang có dùng của WinNonlin. Sự phân bố thuốc piperaquine ở các khoang được mô tả rõ ràng bởi một mô hình 3 khoang với pha phân bố nhanh ban đầu sau khi tiêm tĩnh mạch. Đặc tính dược lực học của piperaquine được đặc trưng là mật độ thanh thải chậm, thể tích phân bố lớn và thời gian bán hủy đào thải dài. Độ thanh thải piperaquine trong mật thấp và < 1% thuốc đào thải qua nước tiểu. Sinh khả dụng của đường uống tuyệt đối là khoảng 50%. Chất chuyển hóa chính sau tiêm tĩnh mạch của piperaquine là một sản phẩm carboxylic acid.
5.3. Hiệu quả lâm sàng:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4. Dữ liệu tiền lâm sàng:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
….
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng.
6.3. Bảo quản:
Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.
6.4. Thông tin khác :
Không có.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM