Thuốc TYGACIL là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc TYGACIL (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)
Nội dung chính
Toggle
1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Tigecycline
Phân loại: Thuốc kháng sinh glycylcyclin.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): J01AA12.
Brand name: TYGACIL.
Hãng sản xuất : Wyeth Lederle S.r.l.
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Bột đông khô vô khuẩn pha dung dịch truyền tĩnh mạch 50mg.
Thuốc tham khảo:
| TYGACIL | ||
| Mỗi lọ bột đông khô có chứa: | ||
| Tigecyclin | …………………………. | 50 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Tigecyclin được chỉ định để điều trị các nhiễm khuẩn sau đây gây ra bởi các chủng vi khuẩn nhạy cảm ở bệnh nhân 18 tuổi trở lên (chỉ dùng cho các trường hợp bệnh nhân nặng và đã có bằng chứng rõ ràng hoặc khả năng cao là gây ra bởi các chủng vi khuẩn nhạy cảm):
Các nhiễm khuẩn da và cấu trúc da có biến chứng (Complicated Skin and Skin Structure Infections – cSSSI):
Các nhiễm khuẩn da và cấu trúc da có biến chứng gây ra bởi Escherichia coli, Enterococcus faecalis (các chủng nhạy cảm với vancomycin), Staphylococcus aureus (bao gồm các chủng nhạy cảm và cả các chủng đã kháng methicillin), Streptococcus agalactiae, Streptococcus anginosus grp. (bao gồm s. anginosus, s. intermedius, và s. constellatus), Streptococcus pyogenes, Enterobacter cloacae, Klebsiella pneumoniae, và Bacteroìdes fragilis.
Các nhiễm khuẩn ổ bụng có biến chứng (Complicated Intra-abdominal Infections – cIAI)
Các nhiễm khuẩn ổ bụng có biến chứng gây ra bởi Citrobacter freundii, Enterobacter cloacae, Escherichia coli, Klebsiella oxytoca, Klebsiella pneumoniae, Enterococcus faecalis (các chủng nhạy cảm với vancomycin), Staphylococcus aureus (bao gồm các chủng nhạy cảm và cả các chủng đã kháng methicillin), Streptococcus anginosus grp. (bao gồm s. anginosus, s. intermedius, và s. constellatus), Bacteroides fragilis, Bacteroides thetaiotaomicron, Bacteroides uniformis, Bacteroides vulgatus, Clostridium perfringens, và Peptostreptococcus micros.
Viêm phổi mắc phải cộng đồng (Community-acquired Pneumonia – CAP)
Viêm phổi mắc phải cộng đồng do Streptococcus pneumoniae (các chủng nhạy cảm với penicillin), kể cả trường hợp có nhiễm khuẩn máu, Haemophilus influenzae (chủng không sinh beta-lactamase) và Legionella pneumophila
Giới hạn chỉ định:
Tigecyclin không được chỉ định cho trường hợp nhiễm khuẩn bàn chân trong đái tháo đường. Một thử nghiệm lâm sàng đã không chứng minh được tính “không kém hiệu quả hơn” của tigecyclin so với nhóm chúng trong điều trị nhiễm khuẩn bàn chân trong đái tháo đường.
Tigecyclin không được chỉ định cho viêm phổi mắc phải tại bệnh viện hoặc viêm phổi liên quan đến thở máy. [Pharmog].Trong một nghiên cứu so sánh trên đối tượng bệnh nhân này, đã có báo cáo về việc tỷ lệ tử vong cao hơn và giảm hiệu quả ở các bệnh nhân trong nhóm sử dụng tigecyclin (xem mục 4.4).
Để giảm thiểu sự phát triển của các chủng vi khuẩn kháng thuốc và giữ được hiệu quả của tigecyclin và các thuốc kháng sinh khác, tigecyclin chỉ nên được dùng để điều trị hoặc dự phòng các trường hợp nhiễm khuẩn khi đã có bằng chứng rõ ràng hoặc khả năng cao là gây bởi các chủng vi khuẩn nhạy cảm.
Khi có kết quả cấy và kháng sinh đồ, nên cân nhắc lựa chọn hoặc điều chỉnh kháng sinh. Nếu không có các bằng chứng này, dữ liệu dịch tễ học địa phương và kháng sinh đồ có thể góp phần giúp lựa chọn theo kinh nghiệm phác đồ điều trị.
Cần lấy các mẫu xét nghiệm thích hợp để phân lập và xác định chủng gây bệnh và đế đánh giá độ nhạy cảm của chủng gây bệnh với tigecyclin. Tigecyclin có thể được dùng như đơn trị liệu theo kinh nghiệm trước khi có kết quả của các xét nghiệm này.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Đường dùng: Truyền tĩnh mạch.
Bột đông khô nên được hòa tan trở lại với 5,3 mL natri clorid pha tiêm 0,9%, USP, hoặc dextrose 5% pha tiêm, USP để dạt được nồng độ 10 mg/mL tigecyclin. Lắc nhẹ lọ cho đến khi thuốc tan hoàn toàn. Sau đó, 5 mL dung dịch thuốc vừa pha được rút ngay ra khỏi lọ và thêm vào 100 mL túi dịch truyền. Đối với liều 100 mg, sử dụng 2 lọ pha vào 100 mL túi dịch truyền (chú ý : lọ chứa 6% lượng dư. [Pharmog]. Do đó 5 mL dung dịch pha loãng tương ứng với 50 mg thuốc). Dung dịch sau khi pha có màu vàng đến vàng cam, nếu không dung dịch nên được loại bỏ. Các chế phẩm thuốc tiêm nên được kiểm tra bằng mắt thường sự có mặt của các tiểu phân lạ và sự đổi màu (ví dụ sang xanh lá cây hoặc đen) trước khi sử dụng. Sau khi pha, tigecyclin có thể được bảo quản trong lọ ở nhiệt độ phòng (không quá 25°C) trong vòng 6 giờ. Neu nhiệt độ bảo quản lớn hơn 25°c sau khi pha, tigecyclin cần được dùng ngay lập tức. Như là một lựa chọn khác, tigecyclin đã pha với Natri Clorid tiêm 0,9%, USP hoặc Dextrose tiêm 5%, USP có thể được bảo quản lạnh ở nhiệt độ 2°c đến 8°c trong 48 giờ tính từ ngay sau khi đổ dung dịch đã pha vào túi dịch truyền.
Tigecyclin có thể dùng đường tĩnh mạch qua một đường riêng hoặc qua chạc ba (Y- site). Nếu dùng cùng một đường truyền tĩnh mạch với một số thuốc, đường truyền nên được rửa trước và sau khi truyền tigecyclin bằng natri clorid tiêm truyền 0,9%, USP hoặc dextrose tiêm truyền 5%, USP. Nên sử dụng dung dịch truyền tương hợp với tigecyclin và bất cứ thuốc nào khác dùng cùng đường (xem mục 6.2).
Liều dùng:
Theo khuyến cáo, liều ban đầu của tigecyclin là 100 mg, sau đó cứ cách 12 giờ dùng 50 mg. Nên truyền tĩnh mạch tigecyclin trong vòng 30 đến 60 phút cách 12 giờ một lần.
Thời gian điều trị bằng tigecyclin trong nhiễm khuẩn da và cấu trúc da có biến chứng hoặc nhiễm khuẩn ổ bụng có biến chứng khuyến cáo là 5 đến 14 ngày. Thời gian điều trị bằng tigecyclin trong viêm phổi mắc phải cộng đồng khuyến cáo là 7 đến 14 ngày. Thời gian điều trị tùy thuộc vào mức độ nặng nhẹ, vị trí nhiễm khuẩn và tiến triển lâm sàng và vi sinh của bệnh nhân.
Sử dụng trên bệnh nhân suy thận
Không cần hiệu chỉnh liều trên bệnh nhân suy thận hoặc bệnh nhân đang thẩm phân máu (xem mục 5.2).
Sử dụng trên bệnh nhân suy gan
Không cần hiệu chỉnh liều trên bệnh nhân suy gan nhẹ đến trung bình (Child Pugh A và Child Pugh B). Trên cơ sở các thông số dược động học trên bệnh nhân suy gan nặng (Child Pugh C), liều của tigecyclin nên được chỉnh đến 100 mg, tiếp theo cứ cách 12 giờ dùng 25 mg. Cần thận trọng và theo dõi đáp ứng điều trị trên bệnh nhân suy gan nặng (Child Pugh C) (xem mục 5.2)
Sử dụng trên trẻ em
Thử nghiệm lâm sàng nhầm đánh giá tính an toàn và hiệu quả của tigecyclin khi sử dụng cho bệnh nhân dưới 18 tuổi chưa được tiến hành. Do đó không khuyến cáo sử dụng cho bệnh nhân dưới 18 tuổi trừ khi không có thuốc kháng khuẩn thay thế nào sẵn có (xem mục 4.4). Trong trường hợp này, liều lượng sau đây được khuyến cáo (xem mục 5.2):
Bệnh nhân nhi từ 8 đến 11 tuổi nên dùng tigecyclin liều 1,2 mg/kg mỗi 12 giờ qua đường tĩnh mạch và liều tối đa là 50 mg tigecyclin mỗi 12 giờ.
Bệnh nhân nhi từ 12 đến 17 tuổi nên dùng 50 mg tigecyclin mỗi 12 giờ.
Liều tigecyclin đề xuất dành cho bệnh nhân nhi nêu trên được tính toán dựa vào nồng độ thuốc trong máu quan sát thấy trong những thử nghiệm dược động học có bao gồm một số lượng nhỏ bệnh nhân nhi.
Sử dụng trên người già
Trong một phân tích gộp trên 3900 đối tượng đã sử dụng tigecyclin trong các nghiên cứu lâm sàng pha 3 và 4, có 1026 bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên, trong đó có 419 bệnh nhân từ 75 tuổi trở lên. Không có sự khác biệt tổng thể nào ngoài dự kiến về tính an toàn trên các đối tượng này so với những bệnh nhân trẻ hơn. Không cần hiệu chỉnh liều khi sử dụng thuốc cho người cao tuổi.
Chủng tộc và giới tính
Không cần thiết hiệu chỉnh liều trên cơ sở chủng tộc và giới tính (xem mục 5.2).
4.3. Chống chỉ định:
Thuốc chống chỉ định trong trường hợp bệnh nhân bị dị ứng hoặc tăng mẫn cảm với các thành phần của thuốc.
4.4 Thận trọng:
Tỷ lệ tử vong do các nguyên nhân khác nhau:
Trong các thử nghiệm lâm sàng pha 3 và pha 4, ở các đối tượng dùng tigecyclin đã được quan sát thấy có sự tăng tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân so với nhóm đối chứng. Trong một phân tích gộp 13 thử nghiệm lâm sàng pha 3 và pha 4 bao gồm cả nhóm chứng, tỷ lệ tử vong là 4% (150/3788) trên các đối tượng dùng tigecyclin và 3% (110/3646) trên các đối tượng dùng thuốc đối chứng. Trong một phân tích gộp các thử nghiệm lâm sàng này, dựa trên mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên theo gia trọng các thử nghiệm, sự khác biệt về nguy cơ đã được hiệu chỉnh trên tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân giữa nhóm đối tượng dùng tigecyclin và nhóm dùng thuốc đối chứng là 0,6% (khoảng tin cậy 95%: từ 0,1% đến 1,2%). [Pharmog].Một phân tích gộp trên tất cả các thử nghiệm lâm sàng tiến hành cho các chỉ định nhiễm khuẩn da và cấu trúc da có biến chứng, nhiễm khuẩn ổ bụng có biến chứng và viêm phổi mắc phải cộng đồng, bao gồm các nghiên cứu sau khi sản phẩm đã ra thị trường cho thấy tỷ lệ tử vong đã được hiệu chỉnh là 2,5% (66/2640) ở nhóm dùng tigecyclin so với 1,8% (48/2628) ở nhóm dùng thuốc đối chứng. Sự khác biệt về nguy cơ tăng tỷ lệ tử vong đã được hiệu chỉnh theo gia trọng các thử nghiệm là 0,6% (khoảng tin cậy 95%: từ 0,0% đến 1,2%).
Nguyên nhân của sự khác biệt tỷ lệ tử vong này vẫn chưa được xác định. Thông thường, nguyên nhân gây tử vong là do tình trạng nhiễm khuẩn trở nên nặng hơn, biến chứng của nhiễm khuẩn hoặc các bệnh mắc kèm khác. Tigecyclin nên được sử dụng trong các trường hợp khi không có liệu pháp thay thế (xem mục 4.1, 4.4 – phần Tỷ lệ tử vong dao động và tỷ lệ chữa khỏi thấp hơn trong viêm phổi mắc phải tại bệnh viện và 4.8).
Tỷ lệ tử vong dao động và tỷ lệ chữa khỏi thấp hon trong viêm phổi mắc phải tại bệnh viện
Một nghiên cứu trên các bệnh nhân viêm phổi mắc phải tại bệnh viện, bao gồm bệnh nhân viêm phổi liên quan đến thở máy, không xác nhận được hiệu quả của tigecyclin. Trong nghiên cứu này, các đối tượng được chia ngẫu nhiên dùng tigecyclin (khởi điểm 100 mg, sau đó 50 mg mỗi 12 giờ) hoặc thuốc đối chứng. Ngoài ra, đối tượng được phép nhận các biện pháp điều trị hỗ trợ đặc hiệu. Ở phân nhóm nhỏ đối tượng viêm phổi liên quan đến thở máy (ventilator-associated pneumonia – VAP) dùng tigecyclin có tỷ lệ khỏi bệnh thấp hơn (47,9% so với 70,1% cho nhóm bệnh nhân đánh giá được vê mặt lâm sàng) so với nhóm đối chứng.
Sốc phản vệ/ phản ứng dạng phản vệ:
Sốc phản vệ / phản ứng phản vệ đã được báo cáo với hầu hết các thuốc kháng khuẩn, bao gồm cả tigecyclin, và có thể đe dọa tính mạng.
Trong nghiên cứu này, tăng tỷ lệ tử vong được ghi nhận ở nhóm đối tượng mắc viêm phổi liên quan đến thở máy dùng tigecyclin (25/131 [19,1%] so với 15/122 [12,3%] ở nhóm đối chứng (xem mục 4.8). Đặc biệt các đối tượng mắc bệnh viêm phổi liên quan đến thở máy và nhiễm khuẩn huyết tại thời điểm ban đầu dùng tigecyclin có tỷ lệ tử vong cao hơn so với nhóm chứng (9/18 [50,0%] so với 1/13 [7,7%])
Tigecyclin có cấu trúc tương tự với các kháng sinh nhóm tetracyclin. Do đó nên thận trọng khi dùng tigecyclin cho bệnh nhân mẫn cảm với các kháng sinh nhóm tetracyclin
Ảnh hưởng trên gan:
Tăng tổng nồng độ bilirubin, tăng thời gian prothrombin và transaminase đã được nhận thấy ở bệnh nhân điều trị bằng tigecyclin. Các trường hợp riêng lẻ bệnh nhân có rối loạn chức năng gan đáng kể và suy gan cũng đã được ghi nhận trên bệnh nhân được điều trị bằng tigecyclin. Một số bệnh nhân trong số đó cũng được đông thời dùng một số thuốc khác. Bệnh nhân có kết quả xét nghiệm chức năng gan bất thường nên được theo dõi tìm bằng chứng của việc giảm chức năng gan và đánh giá lợi ích/nguy cơ của việc tiếp tục điều trị với tigecyclin. Các tác dụng không mong muốn có thể xảy ra sau khi đã ngừng thuốc.
Viêm tụy:
Đã xuất hiện các trường hợp viêm tụy cấp, có thể dẫn đến tử vong, có liên quan đến việc dùng tigecyclin để điều trị (xem mục 4.8). Chẩn đoán viêm tụy cấp nên được xem xét trên các bệnh nhân dùng tigecyclin có các triệu chứng, dấu hiệu trên lâm sàng hoặc có các kết quả xét nghiệm bất thường gợi ý đến viêm tụy cấp. Đã có các trường hợp được thông báo trên các bệnh nhân không mang các yếu tố nguy cơ gây viêm tụy cấp. Các triệu chứng của bệnh nhân thường được cải thiện sau khi ngừng dùng tigecyclin.
Nên xem xét ngừng điều trị bằng tigecyclin trong các bệnh nhân nghi ngờ có viêm tụy tiến triển (xem mục 4.8)
Đổi màu răng vĩnh viễn
Sử dụng tigecyclin trong thời kỳ phát triển răng (nửa sau của thai kỳ, trẻ sơ sinh và trẻ em dưới 8 tuổi) có thể gây đổi màu răng vĩnh viễn (vàng xám – nâu). Kết quả của các nghiên cứu trên chuột với tigecyclin đã cho thấy có sự đổi màu xương. Tigecyclin không nên được dùng trong thời kỳ phát triển răng trừ khi các thuốc khác nhiều khả năng sẽ không có hiệu quả hoặc đều có chống chỉ định
Viêm đại tràng giả mạc:
Viêm đại tràng giả mạc đã được báo cáo gần như với tất cả các thuốc kháng sinh và có thể dao động từ mức độ nhẹ đến đe dọa tính mạng. Do đó, những bệnh nhân có dấu hiệu tiêu chảy sau khi dùng bất cứ kháng sinh nào cũng cần được xem xét chẩn đoán bệnh này
Tiêu chảy liên quan Clostridium difficile (CDAD):
Tiêu chảy liên quan đến Clostridium difficile (Clostridium difficile associated diarhea – CDAD) đã được báo cáo khi sử dụng hầu hết các thuốc kháng sinh, bao gồm tigecyclin, và độ nghiêm trọng có thể từ tiêu chảy nhẹ đến viêm ruột kết dẫn đến tử vong. Điều trị bằng các thuốc kháng sinh sẽ làm thay đổi quần thể vi sinh tự nhiên của ruột dẫn tới sự phát triển quá mức của c. difficile.
Clostridium difficile sinh ra độc tố A và B góp phần làm phát triển CDAD. Các chủng c. difficile sinh nhiều độc tố là nguyên nhân làm tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong, vì các nhiễm khuẩn này có thể khó chữa khi dùng các liệu pháp kháng sinh và có thể cần phải cắt bỏ ruột kết. Cần phải nghĩ đến bệnh CDAD ở tất cả các bệnh nhân xuất hiện tiêu chảy sau khi dùng các thuốc kháng sinh, cần ghi bệnh án cẩn thận vì đã có báo cáo CDAD xảy ra trong hơn 2 tháng sau điều trị bằng kháng sinh.
Nếu nghi ngờ hoặc đã chắc chắn bệnh nhân mắc CDAD, có thể cần ngừng các liệu pháp kháng sinh đang sử dụng nếu không nhắm đến diệt c. difficile. Các biện pháp kiểm soát nước và chất điện giải, bổ sung protein, điều trị với một kháng sinh có hiệu quả đối với c. difficile, và cân nhắc can thiệp ngoại khoa nên được tiến hành căn cứ theo tình trạng lâm sàng.
Thủng ruột:
Cần thận trọng khi sử dụng đơn trị liệu tigecyclin cho các bệnh nhân có nhiễm khuẩn ổ bụng có biến chứng (cIAI) thứ phát sau thủng ruột trên lâm sàng. Trong các nghiên cứu lâm sàng pha 3 trên cIAI (n=2775), có 140/1382 đối tượng bị thủng ruột được điều trị bằng tigecyclin và 142/1393 đối tượng bị thủng ruột ở nhóm đối chứng. Trong số này, sốc nhiễm khuẩn xảy ra ở 8/140 đối tượng sử dụng tigecyclin và 8/142 đối tượng dùng thuốc đối chứng. Chưa thiết lập được mối tương quan giữa kết quả này với phác đồ điều trị.
Tác động của nhóm tetracyclin:
Tigecyclin có cấu trúc tương tự các kháng sinh nhóm tetracyclin và có thể có các tác dụng không mong muốn tương tự. Các tác dụng không mong muốn có thể bao gồm : nhạy cảm với ánh sáng, giả u não, tác dụng chống đồng hóa (điều này dẫn đến làm tăng urê máu (BUN), tăng nitơ máu, nhiễm toan chuyển hóa và tăng phosphat máu). Cũng như các tetracyclin, viêm tụy đã được báo cáo ở bệnh nhân sử dụng tigecyclin (xem mục 4.4 – phần Viêm tụy cấp)
Bội nhiễm:
Cũng như các thuốc kháng sinh khác, sử dụng thuốc này có thể làm tăng sinh một số chủng vi sinh vật không nhạy cảm, bao gồm cả nấm. Bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ trong quá trình điều trị. Nếu xuất hiện bội nhiễm, phải dùng các biện pháp thích hợp
Sự phát triển các chủng vi khuẩn kháng thuốc:
Kê đơn tigecyclin khi không có bằng chứng hoặc khả năng cao là có nhiễm khuẩn sẽ không có lợi cho bệnh nhân và làm tăng nguy cơ phát triển các chủng vi khuẩn kháng thuốc
Ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm và các xét nghiệm chẩn đoán khác
Không có thông báo về tương tác giữa thuốc và kết quả xét nghiệm.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Tigecyclin có thể gây chóng mặt (xem mục 4.8), điều này có thể gây ảnh hưởng đến khả năng lái xe và/ hoặc vận hành máy móc.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: D
US FDA pregnancy category: D
Thời kỳ mang thai:
Phụ nữ có thai khi dùng tigecyclin có thể gây hại cho thai nhi. Nếu bệnh nhân có thai trong thời gian dùng tigecyclin, bệnh nhân cần được thông báo về các nguy cơ có thể xảy đến với thai nhi. Các nghiên cứu trên động vật thực nghiệm cho thấy tigecyclin đi qua được hàng rào nhau thai và xuất hiện trong các mô của thai nhi. Giảm trọng lượng thai ở chuột cống và thỏ (liên quan đến việc làm chậm sự xương hóa) và sảy thai trên thỏ đã được ghi nhận khi sử dụng tigecyclin.
Tigecyclin không gây quái thai trên chuột cống hoặc thỏ. Trong các nghiên cứu an toàn tiền lâm sàng, tigecyclin gắn đồng vị 14c qua được hàng rào nhau thai và được tìm thấy trong các mô của thai nhi bao gồm cả trong các cấu trúc xương. Sử dụng tigecyclin có liên quan đến việc làm giảm nhẹ trọng lượng thai và làm tăng nguy cơ bất thường nhỏ ở xương (làm chậm quá trình xương hóa) xuất hiện tương ứng ở liều gấp 4,7 lần và 1,1 lần liều dùng hàng ngày trên người tính tương ứng theo AUC trên chuột cống và thỏ. Sự tăng nguy cơ mất trọng lượng thai được quan sát thấy ở liều gấp 1,1 lần liều dùng trên người tính theo AUC trên thỏ, ở liều gây độc tính tối thiểu trên mẹ.
Không có các nghiên cứu thích hợp và được kiểm soát tốt về tigecyclin trên phụ nữ có thai. Chỉ nên dùng tigecyclin trong thời kỳ mang thai nếu hiệu quả mang lại lớn hơn nguy cơ gây hại cho thai nhi.
Tigecyclin chưa được nghiên cứu để sử dụng trong thời gian chuyển dạ và sinh.
Thời kỳ cho con bú:
Các kết quả nghiên cứu trên động vật sử dụng tigecyclin gắn 14c cho thấy tigecyclin được bài tiết dễ dàng qua sữa ở chuột cống cho con bú. Có rất ít hoặc không có sự phơi nhiễm của chuột bú mẹ với tigecyclin do sinh khả dụng đường uống của tigecyclin thấp.
Chưa rõ trên người thuốc có bài tiết qua sữa mẹ hay không. Do nhiều thuốc có khả năng bài tiết qua sữa mẹ, nên cần thận trọng khi sử dụng tigecyclin cho phụ nữ cho con bú (xem mục 4.4).
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
| Hệ cơ quan | Phản ứng không mong muốn |
| Các rối loạn trên máu và hệ bạch huyết | |
| Thường gặp | Kéo dài thời gian hoạt hóa bán phần phức hợp thromboplastin (aPTT), Kéo dài thời gian prothrombin (PT), Giảm tiểu cầu |
| ít gặp | Tăng chỉ số bình thường hóa quốc tế (INR) |
| Các rối loạn hệ miễn dịch | |
| Không xác định | Phản ứng sốc, sốc phản vệ |
| Các rối loạn về chuyển hóa và dinh dưỡng | |
| Thường gặp | Tăng bilirubin máu, Tãng urê máu (BUN), Hạ protein máu, Hạ đường huyết |
| Các rối loạn hệ thần kinh | |
| Thường gặp | Chóng mặt |
| Các rối loạn trên tim mạch | |
| Thường gặp | Viêm tĩnh mạch |
| ít gặp | Viêm tắc tĩnh mạch |
| Các rối loạn hệ hô hấp, lồng ngực và trung thất | |
| Thường gặp | Viêm phổi |
| Các rối loạn đường tiêu hóa | |
| Rất thường gặp | Buồn nôn, nôn, tiêu chảy |
| Thường gặp | Chán ăn, đau bụng, khó tiêu |
| ít gặp | Viêm tụy cấp |
| Các xét nghiệm | |
| Thường gặp | Tãng amylase huyết thanh |
| Các rối loạn hệ gan mật | |
| Thường gặp | Tăng AST và ALT huyết thanh * |
| ít gặp | Vàng da |
| Không xác định | Tắc mật gan |
| * Các bất thường về AST và ALT trên bệnh nhân sử dụng tigecyclin thường gặp ở giai đoạn sau điều trị hơn so với nhóm dùng thuốc đối chứng, với các thuốc này các bất thường thường gặp trong giai đoạn điều trị. | |
| Các rối loạn da và mô dưới da | |
| Thường gặp | Ngứa, ban đỏ |
| Không xác định | Phản ứng da nặng, bao gồm cả hội chứng Stevens-Johnson |
| Các rối loạn chung và phản ứng xảy ra tại vị trí đưa thuốc | |
| Thường gặp | Đau đầu, chậm lành vết thương, phản ứng tại chỗ tiêm |
| ít gặp | Viêm, đau, phù, viêm tĩnh mạch tại nơi tiêm |
| Các xét nghiệm | |
| Thường gặp | Tăng amylase huyết thanh |
Trong một phân tích gộp tất cả 13 thử nghiệm lâm sàng pha 3 và 4, bao gồm cả nhóm đối chứng, tỷ lệ tử vong trên nhóm đối tượng dùng tigecyclin là 4% (150/3788) và trên nhóm đối tượng dùng thuốc đối chứng là 3% (110/3646). Trong phân tích gộp các thử nghiệm lâm sàng này, sự khác biệt về nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân là 0,9% (khoảng tin cậy 95% : từ 0,1% đến 1,8%) giữa nhóm đối tượng dùng tigecyclin và nhóm đối tượng dùng thuốc đối chứng. Trong phân tích gộp các thử nghiệm lâm sàng này, dựa trên mô hình tác động ngẫu nhiên theo gia trọng các thử nghiệm, sự khác nhau về nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân được hiệu chỉnh là 0,6% (khoảng tin cậy 95% : từ 0,1% đến 1,2%) giữa nhóm bệnh nhân dùng tigecyclin và nhóm đối tượng dùng thuốc đối chứng. [Pharmog].Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa tigecyclin và thuốc đối chứng được quan sát thấy trong từng loại nhiễm khuẩn (xem bảng 1). Nguyên nhân của sự mất cân bằng này vẫn chưa được xác định. Nhìn chung, tử vong là do tình trạng nhiễm khuẩn xấu đi, hoặc biến chứng của nhiễm khuẩn hoặc do các bệnh khác kèm theo.
Bảng 1: Đối tượng nghiên cứu với kêt quả tử vong do các loại nhiễm khuẩn
| Loại nhiễm khuẩn | -Tigecyclin – | -Đối chứng – | Sự khác biệt vê nguy cơ* | ||
| n/N | % | n/N | % | % (95% CI) | |
| cSSSI | 12/834 | 1,4 | 6/813 | 0,7 | 0,7 (-0,5; 1,9) |
| cIAI | 42/1382 | 3,0 | 31/1393 | 2,2 | 0,8 (-0,4; 2,1) |
| CAP | 12/424 | 2,8 | 11/422 | 2,6 | 0,2 (-2,3; 2,7) |
| HAP | 66/467 | 14,1 | 57/467 | 12,2 | 1,9 (-2,6; 6,4) |
| Non-VAPa | 41/336 | 12,2 | 42/345 | 12,2 | 0,0 (-5,1; 5,2) |
| VAPa | 25/131 | 19,1 | 15/122 | 12,3 | 6,8 (-2,9; 16,2) |
| RP | 11/128 | 8,6 | 2/43 | 4,7 | 3,9 (-9,1; 11,6) |
| DFI | 7/553 | 1,3 | 3/508 | 0,6 | 0,7 (-0,8; 2,2) |
| Tỉ lệ chung không hiệu chỉnh | 150/3788 | 4 | 110/3646 | 3 | 0,9 (0,1; 1,8) |
| Tỉ lệ chung không hiệu chỉnh | 150/3788 | 4 | 110/3646 | 3 | 0,6 (0,1; 1,2) |
CAP = Viêm phổi măc phải cộng đồng; cIAI = Nhiễm khuẩn ổ bụng có biến chứng; cSSSI = Nhiễm khuẩn da và cấu trúc da có biến chứng; HAP = Viêm phổi mắc phải ở bệnh viện; VAP = Viêm phổi liên quan đến thở máy; RP = vi khuẩn kháng thuốc; DFI = Nhiễm khuẩn bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường.
* Sự khác biệt giữa tỷ lệ phần hăm đối tượng tử vong do tigecyclin và nhóm dùng thuốc đối chứng
Giá trị CIs 95% được tính theo phưong pháp cho điểm của Wilson
** Ước tính tỷ lệ chung có hiệu chỉnh của sự khác biệt nguy cơ và khoảng tin cậy 95% của giá trị này (mô hình ảnh hường ngẫu nhiên có gia họng thử nghiệm)
a Dưới phân nhóm nhỏ bệnh nhân viêm phổi mắc phải ở bệnh viện (HAP)
Chú thích : Các thử nghiệm lâm sàng bao gồm 300, 305, 900 (cSSSI), 301, 306, 315, 316, 400 (cIAI), 308 và 313 (CAP), 311 (HAP), 307 [Nghiên cứu hên vi khuẩn Gram (+) kháng thuốc ở đối tượng nhiễm MRSA hoặc cầu khuẩn ruột kháng Vancomycin (VRE)] và nghiên cứu 319 (nhiễm khuẩn bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường có kèm theo hoặc không kèm theo viêm tủy xương)
Các tác dụng phụ thường gặp nhất trên đối tượng điều trị bằng tigecyclin là buồn nôn 29,9% (19,3% nhẹ; 9,2% trung bình; 1,4% nặng) và nôn 19,9% (12,1% nhẹ; 6,8% trung bình; 1,1% nặng). Nhìn chung, buồn nôn và nôn thường xuất hiện sớm (ngày thứ 1-2).
Ngừng dùng tigecyclin thường liên quan nhiều nhất đến buồn nôn (1,6%) và nôn (1,3%).
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Trong một nghiên cứu về tương tác thuốc trên người khỏe mạnh được dùng đồng thời tigecyclin (liều khởi điểm 100 mg, tiếp theo 50 mg mỗi 12 giờ) và digoxin (liều khởi điểm 0,5 mg, tiếp theo 0,25 mg mỗi 24 giờ), tigecyclin làm giảm nhẹ Cmax của digoxin 13%, nhưng không ảnh hưởng đến diện tích dưới đường cong (AUC) hoặc độ thanh thải của digoxin. Sự thay đổi nhỏ giá trị Cmax này không ảnh hưởng đến tác dụng dược lực ở trạng thái ổn định của digoxin đánh giá trên sự thay đổi điện tâm đồ. Hơn nữa, digoxin không làm ảnh hưởng đến các thông số dược động học của tigecyclin. Do đó, không cần điều chỉnh liều khi dùng tigecyclin cùng với digoxin.
Ở người khỏe mạnh dùng đồng thời tigecyclin (liều khởi điểm 100 mg, tiếp theo 50 mg mỗi 12 giờ) và warfarin (liều đơn 25 mg) làm giảm độ thanh thải của R-warfarin và S- warfarin tương ứng là 40% và 23% và làm tăng diện tích dưới đường cong (AUC) tương ứng là 68% và 29%. Tigecyclin không làm thay đổi đáng kể tác dụng của warfarin trên chỉ số INR. Thêm vào đó, warfarin không ảnh hưởng đến các thông số dược động học của tigecyclin. Tuy nhiên, nên theo dõi thời gian prothrombin hoặc các xét nghiệm đông máu thích hợp khác khi dùng đồng thời tigecyclin và warfarin.
Các nghiên cứu in vitro trên microsom gan người cho thấy tigecyclin không ức chế chuyển hóa thuốc qua trung gian 6 cytochrom CYP450 sau : 1A2, 2C8, 2C9, 2C19, 2D6 và 3A4. Do đó, tigecyclin không làm thay đổi chuyển hóa của các thuốc được chuyển hóa bởi các enzyme này. Hơn nữa, do tigecyclin không phải là chất bị chuyển hóa mạnh nên độ thanh thải của tigecyclin không bị ảnh hưởng bởi các thuốc ức chế hay cảm ứng hoạt tính của các CYP450 này.
Nghiên cứu in vitro sử dụng tế bào Caco-2 cho thấy tigecyclin không ức chế sự đào thải digoxin, điều này gợi ý rằng tigecyclin không phải là một chất ức chế P-glycoprotein (P-gp). Thông tin nghiên cứu in vitro này phù hợp với việc tigecyclin không ảnh hưởng đến độ thanh thải của digoxin ghi nhận được trong nghiên cứu in vivo về tương tác thuốc được mô tả ở trên.
Tigecyclin là một cơ chất của P-gp dựa vào kết quả của một nghiên cứu in vitro sử dụng một dòng tế bào biểu hiện quá mức P-gp. [Pharmog]. Vai trò có thể có của sự vận chuyển qua trung gian P-gp đến sự phân bố tigecyclin in vivo chưa được biết. Sử dụng đồng thời với chất ức chế P-gp (ví dụ: ketoconazol hoặc cyclosporin) hoặc chất gây cảm ứng P-gp (ví dụ: rifampicin) có thể ảnh hưởng tới dược động học của tigecyclin.
Sử dụng đồng thời các kháng sinh và thuốc tránh thai đường uống có thể làm giảm tác dụng của các thuốc tránh thai.
4.9 Quá liều và xử trí:
Chưa có các thông tin đặc biệt về điều trị quá liều tigecyclin. Truyền tĩnh mạch tigecyclin liều đơn 300 mg trong 60 phút trên người tình nguyện khỏe manh làm tăng nguy cơ buồn nôn và nôn. Các nghiên cứu về độc tính đường tĩnh mạch liều đơn tigecyclin tiến hành trên chuột ước tính liều gây chết (LD50) là 124 mg/kg trên chuột đực và 98 mg/kg trên chuột cái. Trên chuột cống, liều LD50 ước tính là 106 mg/kg trên cả chuột đực và chuột cái. Thẩm phân máu không loại trừ được lượng đáng kể tigecyclin.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Thuốc kháng khuẩn. Kháng sinh nhóm Glycylcyclin.
Mã ATC: J01AA12
Phương pháp kiểm tra độ nhạy cảm của vi khuẩn
Kỹ thuật pha loãng
Các phương pháp định lượng đã được sử dụng để xác định nồng độ ức chế vi khuẩn tối thiểu (MIC). Các giá trị MIC này được sử dụng để đánh giá mức độ nhạy cảm của vi khuẩn với các kháng sinh. Giá trị MIC được xác định theo một quy trình chuẩn trên cơ sở các phương pháp pha loãng (môi trường lỏng, môi trường thạch hoặc vi pha loãng) hoặc phương pháp tương đương sử dụng số lượng vi khuẩn đã được chuẩn hóa và các nồng độ khác nhau của tigecyclin. Với phương pháp pha loãng trong môi trường lỏng cho các vi khuẩn hiếu khí, giá trị MIC cần được xác định bằng môi trường lỏng mới pha (pha <12 giờ). Giá trị MIC nên được đánh giá theo các tiêu chí được liệt kê trong bảng 2.
Kỹ thuật khuếch tán
Các phương pháp định lượng đo đường kính vòng vô khuẩn cũng cho phép đánh giá độ nhạy cảm của vi khuẩn với các kháng sinh. Quy trình được chuẩn hóa đòi hỏi sử dụng số lượng vi khuẩn đã được chuẩn hóa.
Quy trình này sử dụng các đĩa giấy chứa 15 mcg tigecyclin để thử độ nhạy cảm của các vi sinh vật với tigecyclin. Biện giải kết quả bao gồm mối tương quan giữa đường kính vòng vô khuẩn với giá trị MIC của tigecyclin. Các báo cáo từ phòng xét nghiệm cung cấp kết quả các thử nghiệm trên đĩa đơn chuẩn với 15 mcg tigecyclin nên được biện giải theo các tiêu chí trong bảng 2
| Bảng 2. Biện giải kết quả thử độ nhạy cảm với tigecyclin | ||||||
| Chủng gây bệnh | Nồng độ ức chế tối thiếu (mcg/mL) | Đĩa giấy khuếch tán (đường kính vòng vô khuẩn tính theo mm) | ||||
| S | I | R | S | I | R | |
| Staphylococcus aureus (bao gồm các chủng phân lập kháng methicillin) | <0,5a | >19 | ||||
| Streptococcus spp. không phải là s. pneumoniae | <0,25a | >19 | ||||
| Streptococcus pneumoniae | <0,12a | >21 | ||||
| Enterococcus faecalis (chỉ các chủng phân lập nhạy cảm với vancomycin) | <0,25a | – | – | >19 | – | – |
| Enterobacteriaceaeb | <2 | 4 | >8 | >19 | 15-18 | <14 |
| Haemophilus influenzae | <la | – | – | >21 | – | – |
| Moraxella catarrhalis | <0,12a | – | – | >27 | – | – |
| Vi khuẩn kỵ khíc | <4 | 8 | >16 | n/a | n/a | n/a |
| S=Nhạy Cảm; I = Trung Gian; R=Kháng Thuốc | ||||||
a Do chưa xuất hiện chủng vi khuẩn kháng thuốc nên chỉ có định nghĩa về “nhạy cảm”. Các chủng vi khuẩn phân lập có kết quả MIC gợi ý là “không nhạy cảm” sẽ được gửi về các phòng xét nghiệm tham chiếu để đánh giá thêm.
b Tigecyclin giảm tác dụng kháng khuẩn in vitro trên các chủng Morganella spp., Protens spp. và Providencia spp.
c Pha loãng trong môi trường thạch
Kết quả “nhạy cảm” chứng tỏ vi khuẩn gây bệnh bị ức chế bởi kháng sinh vói các nồng độ đạt được trên bệnh nhân. Kết quả “trung gian” chứng tỏ kết quả này cần được cân nhắc kỹ lưỡng, nếu vi sinh vật không nhạy cảm hoàn toàn với các thuốc có thể thay thế và sẵn có tại bệnh viện, nên lặp lại xét nghiệm này. [Pharmog].Mức độ này dựa trên khả năng ứng dụng trên lâm sàng tại những vị trí nhiễm khuẩn trong cơ thể mà kháng sinh có thể đạt được nồng độ cao hoặc trong trường hợp có thể sử dụng được liều cao kháng sinh. Mức độ này được kèm theo vùng đệm giúp làm giảm ảnh hưởng của các yếu tố kỹ thuật không kiểm soát được dẫn đến sự bất đồng trong biện giải kết quả. Kết quả “đề kháng” chứng tỏ vi sinh vật hoàn toàn không bị ức chế bởi kháng sinh với nồng độ kháng sinh có thể đạt được trên bệnh nhân. Trong trường hợp này nên lựa chọn kháng sinh khác.
Kiểm soát chất lượng
Như đối với các kỹ thuật xác định độ nhạy cảm khác, việc kiểm soát về mặt kỹ thuật cho quy trình chuẩn trong phòng xét nhiệm đòi hỏi phải sử dụng các chủng vi sinh vật đối chứng. Bột tigecyclin chuẩn cần cho giá trị MIC tương ứng trong bảng 3. Đối với kỹ thuật khuếch tán sử dụng đĩa giấy chứa 15 pg tigecyclin, các phòng xét nghiệm nên áp dụng các tiêu chí được ghi trong bảng 3 để thử các chủng vi sinh vật đối chứng
| Chủng vi khuẩn kiểm soát chất lượng | Nồng độ ức chế tối thiểu (mcg/mL) | Đĩa giấy khuếch tán (đường kính vòng vô khuẩn tính theo mm) |
| Staphylococcus aureus ATCC 25923 | Không áp dụng | 20-25 |
| Staphylococcus aureus ATCC 29213 | 0,03-0,25 | Không áp dụng |
| Escherichia coli ATCC 25922 | 0,03-0,25 | 20-27 |
| Enterococcus faecalis ATCC 29212 | 0,03-0,12 | Không áp dụng |
| Pseudomonas aeruginosa ATCC 27853 | Không áp dụng | 9-13 |
| Streptococcus pneumoniae ATCC 49619 | 0,016-0,12 | 23-29 |
| Haemophilus influenzae ATCC 49247 | 0,06-0,5 | 23-31 |
| Neisseria gonorrhoeae ATCC 49226 | Không áp dụng | 30-40 |
| Bacteroides fragilis ATCC 25285 | 0,12-1 | Không áp dụng |
| Bacteroides thetaiotaomicron ATCC 29741 | 0,5-2 | Không áp dụng |
| Eubacterium lentum ATCC 43055 | 0,06-0,5 | Không áp dụng |
| Clostridium difficile ATCC 70057 | 0,12-1 | Không áp dụng |
ATCC = American Type Culture Collection
Tỷ lệ kháng thuốc mắc phải có thể thay đổi theo vùng và thời gian đối với từng loài cụ thể, nên có các thông tin về tình hình kháng thuốc tại cơ sở, đặc biệt trong trường hợp điều trị các nhiễm khuẩn nặng. Thông tin dưới đây chỉ mang tính hướng dẫn tương đối về khả năng nhạy cảm của các vi sinh vật với tigecyclin
Các vi khuẩn nhạy cảm
Các vi khuẩn hiếu khí Gram (+):
Enterococcus avium
Enterococcus casseliflavus
Enterococcus faecalis* ( bao gồm các chủng nhạy cảm với vancomycin)
Enterococcus faecalis (bao gồm các chủng kháng vancomycin)
Enterococcus faecium (bao gồm các chủng nhạy cảm và kháng vancomycin)
Enterococcus gaỉlinarum
Listeria monocytogenes
Staphylococcus aureus* (bao gồm các chủng nhạy cảm và kháng methicillin, bao gồm các chủng phân lập có biểu hiện một số chất chỉ điểm phân tử và tính độc thường liên quan đến nhiễm MRSA mắc phải tại cộng đồng bao gồm yếu tố SCCmec type IV và gen pvl).
Staphylococcus epỉdermidis (bao gồm các chủng nhạy cảm và kháng methicillin) Staphylococcus haemoỉyticus Streptococcus agaỉactiae*
Streptococcus anginosus* (bao gồm 5. anginosus, s. intermedius, s. constellatus)
Streptococcus pyogenes*
Streptococcus pneumoniae * (các chủng phân lập nhạy cảm với penicillin)
Streptococcus pneumoniae (các chủng phân lập kháng penicillin)
Viridans nhóm streptococci
Các vi khuẩn hiếu khí Gram (-):
Acinetobacter caỉcoaceticus/baumannii complex
Aeromonas hydrophỉla
Citrobacter freundii*
Citrobacter koserỉ
Enterobacter aerogenes
Enterobacter cloacae *
Escherichia coli* (bao gồm các chủng sinh beta-lactamase phổ rộng)
Haemophilus influenzae *
Haemophilus parainfluenzae
Klebsiella oxytoca*
Klebsiella pneumoniae * (bao gồm các chủng sinh beta-lactamase phổ rộng)
Klebsiella pneumoniae (bao gồm các chủng sinh AmpC)
Legionella pneumophila *
Moraxella catarrhaỉis*
Neisseria gonorrhoeae
Neisseria meningitidis
Pasteurella multocida
Salmonella enterica ser.
Enteritidis Salmonella enterica ser.
Paratyphi Salmonella enterica ser.
Typhi Salmonella enterica ser.
Typhimurium Serratia marcescens
Shigella boydii Shigella dysenteriae
Shigella flexneri
Shigella sonnei
Stenotrophomonas maltophilia
Vi khuẩn kỵ khí:
Bacteroides fragilis*
Bacteroides distasonỉs
Bacteroỉdes ovatus
Bacteroides thetaiotaomicron*
Bacteroides uniformisé
Bacteroides vulgatus*
Clostridium difficile
Clostridium perfr ingens*
Peptostreptococcus spp.
Peptostreptococcus micros*
Porphyromonas spp.
Prevotella spp.
Vi khuẩn không điển hình:
Chlamydia pneumoniae *
Mycobacterium abscessus
Mycobacterium chelonae
Mycobacterium fortuitum
Mycoplasma pneumoniae *
* Hiệu quả lâm sàng đã được chứng minh trên các chủng phân lập nhạy cảm trong các chỉ định lâm sàng đã được phê duyệt
Kháng thuốc
Các vi khuẩn hiếu khí Gram (-):
Pseudomonas aeruginosa
Vi khuẩn kỵ khí:
Không có các chủng tự nhiên có khả năng kháng tigecyclin
Kháng thuốc:
Không có kháng chéo giữa tigecyclin và các kháng sinh khác
Tigecyclin có thể không bị ảnh hưởng bởi 2 cơ chế kháng thuốc chính của nhóm tetracyclin bao gồm bảo vệ ribosom và bơm tống thuốc
Trong các nghiên cứu in vitro, không thấy có sự đối kháng giữa Tigecyclin với bất cứ nhóm kháng sinh thông thường nào.
Các dữ liệu thử nghiệm lâm sàng về tính hiệu quả của tigecyclin
Các nhiễm khuẩn da và cấu trúc da có biến chửng (cSSSI)
Tigecyclin được đánh giá trên người lớn trong điều trị nhiễm khuẩn da và cấu trúc da có biến chứng (cSSSI) trong hai nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, dùng thuốc đổi chiếu có hoạt tính, đa quốc gia và đa trung tâm. Các nghiên cứu này so sánh tigecyclin (liều tiêm truyền tĩnh mạch khởi điểm là 100 mg, tiếp theo 50 mg mỗi 12 giờ) với vancomycin (tiêm truyền tĩnh mạch 1 g mỗi 12 giờ)/aztreonam (tiêm truyền tĩnh mạch 2 g mỗi 12 giờ) trong vòng 5 đến 14 ngày. Đối tượngbị nhiễm khuẩn mô mềm sâu có biến chứng, bao gồm nhiễm khuẩn các vết thương và viêm mô tế bào (>10 cm, đòi hỏi phải phẫu thuậơdẫn lưu hoặc có kèm theo các bệnh phức tạp khác, các 0 áp xe lớn, các vết loét bị nhiễm khuẩn và các vết bỏng đã được tuyển chọn vào nghiên cứu. Tiêu chí đánh giá chính về hiệu quả là tỷ lệ đáp ứng lâm sàng qua đánh giá khỏi bệnh trên nhóm bệnh nhân đánh giá được về mặt lâm sàng và nhóm đối tượng đánh giá về mặt lâm sàng theo phân tích ITT sửa đổi.

Tỷ lệ khỏi về mặt lâm sàng qua đánh giá khỏi bệnh (TOC) phân loại theo chủng vi khuẩn gây bệnh trên các đối tượng đánh giá được về mặt vi sinh (ME) với nhiễm khuẩn da và cấu trúc da có biến chứng được trình bày trong bảng 5

a Hai nghiên cứu then chốt trên bệnh nhân nhiễm khuẩn da và tổ chức da có biến chứng và thử nghiệm lâm sàng pha 3 trên vi khuẩn kháng thuốc b Bao gồm cả các trường hợp nhiễm khuẩn máu
c CA -MRSA = MRSA mắc phải trong cộng đồng bao gồm các chủng phân lập có biểu hiện một số chất chỉ điểm phân tử và tính độc thường liên quan đến nhiễm MRSA mắc phải tại cộng đồng bao gồm yếu tố SCCmec typ IV và gen pvl.
d Bao gồm Streptococcus anginosus, Streptococcus intermedius và Streptococcus constellatus
Tigecyclin không đạt tiêu chí đánh giá không thua kém khi so sánh với ertapenem trong một nghiên cứu trên đối tượng nhiễm khuẩn bàn chân do đái tháo đường (xem bảng 6). Đây là một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, đa quốc gia, đa trung tâm so sánh tigecyclin (150 mg/ ngày) với ertapenem (lg/ngày, phối hợp hoặc không phối hcrp cùng vancomycin) trong 28 ngày. Tiêu chí đánh giá hiệu quả chính là tỷ lệ đáp ứng lâm sàng qua đánh giá khỏi bệnh trên nhóm bệnh nhân đánh giá được về mặt lâm sàng và trên nhóm bệnh nhân đánh giá về mặt lâm sàng theo phân tích ITT sửa đổi. Khoảng dao động không thua kém được xác định là sự khác biệt 10% về tỷ lệ khỏi bệnh giữa hai phác đồ điều trị.

Nhiễm khuẩn ổ bụng có biến chứng (cIAI)
Tigecyclin đã được đánh giá trên người lớn trong điều trị nhiễm khuẩn ổ bụng có biến chứng (cIAI) trong 2 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, nhóm đối chứng dùng thuốc có hoạt tính, đa quốc gia và đa trung tâm. Các thử nghiệm này so sánh tigecyclin (liều khởi điểm 100 mg tiêm truyền tĩnh mạch, sau đó dùng 50 mg mỗi 12 giờ) với imipenem/cilastatin (500 mg tiêm truyền tĩnh mạch mỗi 6 giờ). Đối tượng được chẩn đoán các biến chứng bao gồm viêm ruột thừa, viêm túi mật, viêm túi thừa đại tràng, thủng dạ dày / tá tràng, áp xe ổ bụng, thủng ruột, viêm phúc mạc. Tiêu chí đánh giá chính là tỷ lệ đáp ứng lâm sàng qua đánh giá khỏi (TOC) cho nhóm đối tượng đánh giá được về mặt vi sinh (ME) và nhóm đối tượng đánh giá được về mặt vi sinh theo phân tích sửa đổi (mlTT). Xem bảng 7.

Tỷ lệ khỏi về mặt lâm sàng qua đánh giá khỏi phân loại theo vi khuẩn gây bệnh trên các bệnh nhân đánh giá được về mặt vi sinh (ME) với nhiễm khuẩn ổ bụng có biến chứng (cIAI) được trình bày ở bảng 8.

Viêm phổi mắc phải cộng đồng (Community-acquired Pneumonia – CAP)
Tigecyclin được đánh giá trên người trưởng thành trong điều trị viêm phổi mắc phải cộng đồng (CAP) trong hai nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng với thuốc thật, đa quốc gia, đa trung tâm (nghiên cứu 308 và 313). Những nghiên cứu này so sánh tigecyclin (liều khởi đầu 100 mg qua đường tĩnh mạch, tiếp theo 50 mg mỗi 12 giờ) với levofloxacin (500 mg qua đường tĩnh mạch mỗi 12 hoặc 24 giờ). Trong một nghiên cứu (nghiên cứu 308), sau ít nhất 3 ngày điều trị qua đường tĩnh mạch, cho phép chuyển qua levofloxacin (500 mg mỗi ngày) qua đường uống trong cả hai nhánh điều trị. Tổng thời gian điều trị là từ 7 đến 14 ngày. Những bệnh nhân bị viêm phổi mắc phải cộng đồng phải nhập viện và điều trị bằng đường tĩnh mạch được tuyển chọn vào các nghiên cứu trên. Tiêu chí đánh giá chính về tính hiệu quả là đáp ứng lâm sàng vào lần khám để đánh giá khỏi (TOC) trong các nhóm đối tượng đánh giá được về mặt lâm sàng (CE) và đối tượng đánh giá được về mặt lâm sàng theo phân tích ITT sửa đổi (c-mlTT). Xem bảng 9. Tỉ lệ khỏi về mặt lâm sàng qua đánh giá khỏi (TOC) phân tích theo tác nhân gây bệnh trong đối tượng đánh giá được về mặt vi sinh (ME) được trình bày trong bảng 10:


Staphylococcus aureus kháng methicỉllin (MRSA) và các chủng Enterococcus kháng vancomycin (VRE)
Tigecyclin được đánh giá trên người lớn trong điều trị các nhiễm khuẩn nặng (cIAI, cSSSI, và các nhiễm khuẩn khác) do VRE và MRSA trong nghiên cứu 307. Nghiên cứu 307 là một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, với nhóm chứng dùng thuốc có hoạt tính, đa quốc gia và đa trung tâm để đánh giá tigecyclin (liều khởi đầu 100 mg IV, sau đó 50 mg mỗi 12 giờ) và vancomycin (lg IV mỗi 12 giờ) trong điều trị các nhiễm khuẩn do MRSA và đánh giá tigecyclin (liều khởi điểm 100 mg IV, tiếp theo 50 mg mỗi 12 giờ) và linezolid (600 mg IV mỗi 12 giờ) trong điều trị các nhiễm khuẩn do VRE trong vòng 7 đến 28 ngày. Đối tượng có nhiễm khuẩn ổ bụng có biến chứng, nhiễm khuẩn da và cấu trúc da có biến chứng và các nhiễm khuẩn khác cũng được đưa vào nghiên cứu này.Tiêu chí đánh giá chính về tính hiệu quả là tỷ lệ đáp ứng lâm sàng qua lần khám để đánh giá khỏi (TOC) cho nhóm bệnh nhân đánh giá được về mặt vi sinh (ME) và nhóm bệnh nhân đánh giá được về mặt vi sinh theo phân tích ITT sửa đổi (m-mITT). về tỉ lệ khỏi về mặt lâm sàng, xem bảng 11 cho MRSA và bảng 12 cho VRE


Các chủng vi khuẩn Gram (-) kháng thuốc
Trong nghiên cứu 309, tigecyclin được đánh giá trên người lớn trong điều trị các nhiễm khuẩn nặng (cIAI, cSSSI, CAP và các nhiễm khuẩn khác) do các chủng vi khuẩn Gram (-) kháng thuốc. Nghiên cứu 309 là một nghiên cứu nhãn mở, đa quốc gia, đa trung tâm, đánh giá tigecyclin (liều khởi điểm 100 mg, tiếp theo 50 mg mỗi 12 giờ) trong điều trị các nhiễm khuẩn do các chủng vi khuẩn Gram (-) kháng thuốc gây ra trong vòng 7 đến 28 ngày. Đối tượng mắc cIAI, cSSSI, CAP và các nhiễm khuẩn khác được đưa vào nghiên cứu này.
Tiêu chí đánh giá chính là tỷ lệ đáp ứng lâm sàng qua đánh giá khỏi bệnh (TOC) nhóm bệnh nhân đánh giá được về mặt vi sinh (CE) và nhóm bệnh nhân đánh giá được về mặt vi sinh theo phân tích ITT sửa đổi (m-mlTT). Xem bảng 13:

Các nhiễm khuẩn Mycobacterium phát triển nhanh
Trong một nghiên cứu lâm sàng không có đối chứng và sử dụng theo kinh nghiệm từ 8 nước, 52 đối tượng có nhiễm khuẩn Mycobacterium tăng trưởng nhanh (thường gặp nhất là bệnh phổi do M.abscessus) được điều trị với tigecyclin cùng với các kháng sinh khác.
Giá trị trung bình và trung vị của thời gian điều trị tương ứng là khoảng 5‘/4 tháng và 3 tháng (trong khoảng : 3 ngày đến khoảng 3/4 năm. Khoảng một nửa số đối tượng có sự cải thiện trên lâm sàng (ví dụ cải thiện các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh phổi hoặc chữa lành vết thương, các tổn thương da hoặc hạch trong giai đoạn tiến triển của bệnh). Khoảng một nửa số đối tượng đã phải giảm liều hoặc ngừng điều trị do buồn nôn, nôn hoặc chán ăn.
Điện tâm đồ
Không có tác động đáng kể nào của liều đơn tigecyclin 50 mg hoặc 200 mg dùng qua đường tĩnh mạch lên khoảng QTc được phát hiện trong nghiên cứu QTc ngẫu nhiên, đối chứng với giả dược và thuốc thật, 4 nhánh chéo trên 46 đối tượng khỏe mạnh.
Cơ chế tác dụng:
Tigecyclin, một kháng sinh glycylcyclin, ức chế tổng hợp protein vi khuẩn bằng cách gắn vào tiểu phần 30S của ribosom và ức chế gắn amino-acyl tARN vào vị trí tiếp nhận A trên ribosom. Điều này ngăn việc gắn acid amin để kéo dài chuỗi peptid. Tigecyclin mang nhóm glycylamido gắn vào vị trí 9 của minocyclin. Nhóm thế này chưa từng có mặt trong bất cứ dẫn chất tetracyclin tự nhiên hay bán tổng hợp nào và mang một số đặc tính vi sinh học vượt trội hơn so với các dẫn chất tetracyclin đã từng được biết trước đây về tác dụng in vitro hoặc in vivo. Hơn nữa, tigecyclin có thể không bị ảnh hưởng bởi hai Cơ chế kháng tetracyclin chính của vi khuẩn là bảo vệ ribosom và bơm tống thuốc. Do đó, tigecyclin thể hiện hoạt tính in vitro và in vivo trên nhiều loại vi khuẩn gây bệnh khác nhau. Không thấy có kháng chéo giữa tigecyclin và các kháng sinh khác. Trên các nghiên cứu in vitro, không thấy có tác dụng đối kháng giữa tigecyclin và các kháng sinh thông thường khác. Nhìn chung, tigecyclin được coi là kháng sinh kim khuẩn. Ở nồng độ gấp 4 lần nồng độ ức chế tối thiểu (MIC), tigecyclin làm số lượng khuẩn lạc của Enterococcus spp., Staphylococcus aureus và Escherichia coli giảm 2 log. Tuy nhiên, tigecyclin cũng có tác dụng diệt khuẩn, làm giảm 3 log số lượng khuẩn lạc của Neisseria gonorrhoeae. Tigecyclin cũng cho thấy tác dụng diệt khuẩn trên một số chủng vi khuẩn đường hô hấp thường gặp như Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae và Legionella, pneumophila.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Các thông số dược động học trung bình của tigecyclin sau khi dùng qua đường tĩnh mạch liều đơn và đa liều tigecyclin theo khuyến cáo được tóm tắt ở bảng 14
Tigecyclin nên được truyền tĩnh mạch trong khoảng 30 đến 60 phút
| Tigecyclin – Truyền tĩnh mạch trong vòng 30 đến 60 phút | ||
| Liều đơn
100 mg |
Đa liềuc
50 mg ql2h |
|
| Cmax (mcg/mL)a | 1.45(22%) | 0.87 (27%) |
| Cmax (mcg/mL)b | 0,90 (30%) | 0.63(15%) |
| AUC (mcg-h/mL) | 5,19(36%) | – |
| AUC(0-24h) (mcg-h/mL) | – | 4,70(36%) |
| Cmin (mcg/mL) | – | 0,13(59%) |
| T1/2 (h) | 27,1 (53%) | 42,4(83%) |
| CL (L/h) | 21 8 (40%) | 23,8 (33%) |
| CLr (mL/min) | 38,0 (82%) | 51,0(58%) |
| Vss(L) | 568 (43%) | 639 (48%) |
| a : 30-phút truyền tĩnh mạch
b: 60-phút truyền tình mạch c: 100 mg khởi đầu. sau đó 50 mg mỗi 12 giờ |
||
Hấp thu
Tigecyclin được dùng qua đường tĩnh mạch, do đó sinh khả dụng của tigecyclin là 100%.
Phân bố
Trên in vitro, tigecyclin kết hợp với protein huyết tương khoảng 71% đến 89% ở nồng độ theo dõi trong các nghiên cứu lâm sàng (0,1 đến 1,0 mcg/mL). Các nghiên cứu dược động học trên người và động vật thí nghiệm cho thấy tigecyclin được nhanh chóng phân bố vào các mô. Trên chuột cống dùng liều đơn hoặc đa liều 14C- Tigecyclin, chât phóng xạ được phân bố tới hầu hết các mô, xuất hiện cao nhất ở xương, tủy xương, tuyến giáp , thận, lách và tuyến nước bọt. Trên người, thể tích phân bố ở nồng độ hằng định vào khoảng 500 đến 700 L (7 đến 9 L/kg) cho thấy tigecyclin được phân bố rộng hơn thể tích huyết tương và đi vào các mô.
Hai nghiên cứu khảo sát các thông số dược động học ở nồng độ hằng định của tigecyclin trong các mô đặc biệt hoặc dịch sinh học được thực hiện trên người khỏe mạnh dùng 100 mg tigecyclin, tiếp theo 50 mg tigecyclin mỗi 12 giờ. Trong một nghiên cứu rửa dịch phế quản, AUC0-12h (134 mcg-h/mL) của tigecyclin trong tế bào phế nang cao hơn khoảng 77,5 lần so với AUC0-12h trong huyết tương của những người tham gia vào nghiên cứu và AUC0-12h (2,28 mcg-h/mL) trong dịch lót biểu mô cao hơn xấp xỉ 32% so với AUC0-12h trong huyết tương. Trong một nghiên cứu trên bỏng giộp trên da, AUC0-12h (1,61 mcg-hr/mL) của tigecyclin trong dịch trên bỏng giập da thấp hơn khoảng 26% so với AUC0-12h trong huyết tương.
Trong một nghiên cứu liều đơn, tigecyclin 100 mg được dùng cho các bệnh nhân phẫu thuật theo chương trình để lấy bỏ các mô. Nồng độ trong các mô sau 4 giờ dùng tigecyclin được đo trong các mô và dịch sinh học : túi mật, phổi, đại tràng, dịch khớp và xương. Nồng độ tigecyclin trong các mô cao hơn trong máu: trong dịch túi mật (38 lần, n=6), phổi (3,7 lần, n=5) và đại tràng (2,3 lần, n=6). Nồng độ tigecyclin trong các mô này sau khi sử dụng liều lặp lại chưa được nghiên cứu.
Chuyển hóa
Tigecyclin ít bị chuyển hóa. Các nghiên cứu in vitro với tigecyclin sử dụng microsom gan, các lát cắt gan và các tế bào gan cho thấy các chất chuyển hóa của tigecyclin chỉ ở dạng vết. Trên người tình nguyện nam khỏe mạnh dùng 14C-Tigecyclin, tigecyclin có gắn 14c là chất chủ yếu được tìm thấy trong nước tiểu và phân, tuy nhiên dạng liên hợp glucuronic, N-acetyl và đồng phân epimer của tigecyclin (mỗi chất không quá 10% liều dùng) cũng được tìm thấy.
Thải trừ
Sau khi dùng tigecyclin gắn 14C, phần có hoạt tính phóng xạ được tìm thấy trong phân và nước tiểu cho thấy 59% liều sử dụng được thải trừ qua mật/phân, và 33% được bài tiết qua nước tiểu. Nhìn chung, tigecyclin thải trừ chủ yếu qua đường mật dưới dạng không bị biến đổi. Con đường thải trừ thứ hai là bài tiết nguyên vẹn qua thận và dạng liên hợp glucuronic.
Tigecyclin là một cơ chất của P-gp dựa vào một nghiên cứu in vitro dùng một dòng tế bào biểu hiện P-gp quá mức. Vai trò có thể có của sự vận chuyển qua trung gian P-gp đến sự phân bố tigecyclin in vivo chưa được biết.
Các nhóm quần thể đặc biệt
Suy gan
Trong một nghiên cứu so sánh 10 đối tượng bị suy gan nhẹ (Child Pugh A), 10 đối tượng suy gan ở mức độ trung bình (Child Pugh B), và 5 đối tượng suy gan nặng (Child Pugh C) với nhóm đối chứng là người tình nguyện khỏe mạnh 23 tuổi có trọng lượng phù hợp, dược động học liều đơn của tigecyclin không thay đổi trên đối tượng suy gan nhẹ. [Pharmog].Tuy nhiên, độ thanh thải hệ thống của tigecyclin giảm 25%, và thời gian bán thải của tigecyclin kéo dài 23% trên đối tượng suy gan ở mức độ trung bình (Child Pugh B). Thêm nữa, độ thanh thải hệ thống của tigecyclin giảm 55%, thời gian bán thải của tigecyclin kéo dài 43% trên đối tượng suy gan nặng (Child Pugh C).
Trên cơ sở các thông số dược động học của tigecyclin, không cần hiệu chỉnh liều trên đối tượng suy gan nhẹ đến trung bình (Child Pugh A and Child Pugh B). Tuy nhiên, đối với đối tượng suy gan nặng (Child Pugh C), nên giảm liều tigecyclin là 100 mg, tiếp theo 25 mg mỗi 12 giờ. Nên thận trọng khi điều trị và theo dõi đáp ứng điều trị đối với đối tượng suy gan nặng, (xem mục 4.2).
Suy thận
Một nghiên cứu liều đơn tiến hành so sánh 6 đối tượng bị suy thận nặng (thanh thải creatinin Clcr <30 mL/phút), 4 đối tượng suy thận giai đoạn cuối dùng tigecyclin 2 giờ trước khi thẩm phân máu, 4 đối tượng suy thận giai đoạn cuối dùng tigecyclin sau khi thẩm phân máu và nhóm chứng gồm 6 người khỏe mạnh. Các thông số dược động học của tigecyclin không thay đổi trong bất cứ nhóm đối tượng suy thận nào, tigecyclin cũng không bị loại bỏ bởi thẩm phân máu. Không cần thiết phải điều chỉnh liều tigecyclin trên đối tượng suy thận hoặc đối tượng đang thẩm phân máu (xem mục 4.2)
Người cao tuổi
Không thấy có sự khác nhau về dược động học giữa người cao tuổi khỏe mạnh (n=15, tuổi 65-75; n=13, tuổi > 75, và người trẻ hơn (n=l 8) dùng tigecyclin liều đơn 100 mg. Do đó, không cần hiệu chỉnh liều theo tuổi bệnh nhân.
Trẻ em
Một nghiên cứu về tính an toàn, khả năng dung nạp thuốc và dược động học liều đơn của tigecyclin ở bệnh nhân nhi từ 8-16 tuổi vừa hồi phục sau nhiễm khuẩn đã được tiến hành. Liều được sử dụng là 0,5; 1 hoặc 2 mg/kg. Nghiên cứu cho thấy rằng đối với trẻ từ 12-16 tuổi (n = 16), liều 50 mg ngày hai lần dẫn đến nồng độ thuốc trong máu là tương đương vói nồng độ thuốc trong máu của người lớn dùng phác đồ liều đã được phê duyệt. Sự biến động lớn được quan sát thấy ở trẻ từ 8-11 tuổi (n = 8) đòi hỏi nghiên cứu bổ sung để xác định liều phù hợp.
Một nghiên cứu xác định liều tiếp theo đã được tiến hành ở bệnh nhân 8-11 tuổi mắc cIAI, cSSSI hoặc CAP. Liều tigecyclin nghiên cứu là 0,75 mg/kg (n = 17), 1 mg/kg (n = 21) và 1,25 mg/kg (n = 20). Nghiên cứu này cho thấy đối với trẻ em từ 8-11 tuổi, liều 1,2 mg/kg dẫn đến nồng độ thuốc trong máu tương đương với nồng độ thuốc trong máu của người lớn dùng phác đồ liều đã được phê duyệt (xem mục 4.2).
Giới tính
Trong nghiên cứu dược lý lâm sàng, một phân tích gộp được tiến hành trên 38 phụ nữ và 298 nam giới cho thấy độ thanh thải trung bình (±SD) của tigecyclin trên phụ nữ (20,7±6,5 L/giờ) và nam giới (22,8±8,7 L/giờ) khác nhau không có ý nghĩa. Do đó, không cần điều chỉnh liều theo giới tính.
Chủng tộc
Trong nghiên cứu dược lý lâm sàng, một phân tích gộp được tiến hành trên 73 người châu Á, 53 người da đen, 15 người Mỹ gốc Tây Ban Nha, 190 người da trắng và 3 người được xếp vào nhóm “khác” cho thấy không có sự khác nhau có ý nghĩa về độ thanh thải trung bình (±SD) của tigecyclin trong số những người châu Á (28,8±8,8 L/giờ), người da đen (23,0±7,8 L/giờ), người Mỹ gốc Tây Ban Nha (24,3±6,5 L/giờ), người da trắng (22,1±8,9 L/giờ), và nhóm “khác” (25,0±4,8 L/giờ). Do đó, không cần điều chỉnh liều theo chủng tộc.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Lactose Monohydrat, natri hydroxid, acid hydrocloric, nitrogen.
6.2. Tương kỵ :
Các dung dịch truyền tĩnh mạch tương hợp bao gồm natri clorid tiêm 0,9%, USP và Dextrose tiêm 5%, USP.
Tigecyclin tương hợp khi dùng cùng đường với các thuốc dưới đây hoặc các chất pha loãng: dobutamin, dopamin HC1, Ringer Lactat, lidocain HC1, kali clorid, ranitidin HCl, và theophyllin
Các thuốc dưới đây không nên dùng đồng thời cùng đường truyền với tigecyclin : amphotericin B, chlorpromazin, methylprednisolon và voriconazol.
6.3. Bảo quản:
Bảo quản ở nhiệt độ không quá 30°c, nơi khô ráo, thoáng mát
Dung dịch sau khi pha nên bảo quản:
Ở nhiệt độ phòng (không quá 25°C) trong vòng 6 giờ trong lọ
Lạnh (2°C – 8°C) trong vòng 48 giờ kể từ ngay sau khi đổ dung dịch đã pha vào túi dịch truyền
6.4. Thông tin khác :
Các dữ liệu an toàn tiền lâm sàng
Gây ung thư
Các nghiên cứu trong suốt vòng đời của động vật chưa được thực hiện để đánh giá khả năng gây ung thư của tigecyclin.
Gây đột biến
Một loạt các thử nghiệm cho thấy tigecyclin không gây đột biến, bao gồm cả thử nghiệm in vitro trên sự khác thường chromosom tế bào buồng trứng chuột lang (CHO), thử nghiệm đột biến in vitro trên tế bào CHO (HGRPT locus), các thử nghiệm đột biến in vitro trên tế bào lympho chuột và các thử nghiệm vi nhân in vivo.
Suy giảm khả năng sinh sản
Tigecyclin không ảnh hưởng đến khả năng giao phối hoặc sinh sản trên chuột cống ở liều gấp 4,7 lần liều dùng hàng ngày của người dựa trên diện tích dưới đường cong AUC. Trên chuột cái, không có tác động liên quan đến thuốc lên buồng trứng hoặc chu kỳ động dục ở liều gấp 4,7 lần liều dùng hàng ngày trên người trên cơ sở diện tích dưới đường cong AUC.
Các ảnh hưởng khác
Giảm hồng cầu, giảm tế bào lưới, bạch cầu và tiểu cầu, kết hợp với giảm các tế bào khác của tủy xương đã gặp với tigecyclin ở liều gấp 8,1 lần và 9,8 lần liều dùng hàng ngày của người dựa trên diện tích dưới dường cong AUC tương ứng trên chuột cống và chó. Những biến đổi này là có hồi phục sau 2 tuần điều trị.
Tiêm tĩnh mạch nhanh tigecyclin có liên quan đến đáp ứng histamin trên các nghiên cứu tiền lâm sàng. Tác dụng này được quan sát thấy ở liều gấp 14,3 và 2,8 lần liều dùng trên người dựa trên diện tích dưới đường cong AUC tương ứng trên chuột cống và chó.
Chưa có các bằng chứng về tác dụng mẫn cảm với ánh sáng được quan sát thấy trên chuột sau khi dùng tigecyclin.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM