Mirtazapine – Mirteva

Thuốc Mirteva là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Mirteva (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Mirtazapine

Phân loại: Thuốc chống trầm cảm.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N06AX11.

Biệt dược gốc: Remeron.

Biệt dược: Mirteva

Hãng sản xuất : Teva Pharmaceutical Industries Ltd.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén bao phim 30 mg.

Thuốc tham khảo:

MIRTEVA 30MG
Mỗi viên nén bao phim có chứa:
Mirtazapine …………………………. 30 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Điều trị các cơn trầm cảm nặng.

Mirtazapin được chỉ định cho người lớn.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Mirtazapin có thời gian ban thai 20-40 giờ và do đó, thích hợp cho chế độ liêu ngày một lần. Nên ưu tiên uống thuốc với liều duy nhất vào buổi tối trước khi đi ngủ.

Cũng có thể sử dụng mirtazapin làm 2 lần (một lần vào buổi sáng và một lần vào buổi tối; buổi tối nên dùng liều cao hơn).

Nên dùng thuốc theo đường uống, với chất lỏng, nuốt cá viên chứ không nhai.

Bệnh nhân trầm cảm cần được điều trị trong thời gian thỏa đáng, tối thiểu 6 tháng để đảm bảo không còn triệu chứng.

Khuyến cáo ngừng điều trị mirtazapin từ từ để tránh các triệu chứng cai thuốc

Liều dùng:

Người lớn

Liều hàng ngày có hiệu quả thường từ 15 đến 45 mg; liều khởi đầu là 15 hoặc 30 mg.

Mirtazapin thường bắt đầu biểu hiện tác dụng sau 1-2 tuần điều trị. Điều trị với liều thích hợp thường mang lại đáp ứng rõ ràng trong vòng 2-4 tuần. Khi đáp ứng không thỏa đáng, có thể tăng liều lên mức tối đa. Nếu không thu được đáp ứng trong vòng 2-4 tuân điều trị thêm, cần ngừng dùng thuốc.

Bệnh nhân cao tuổi:

Liều đề nghị tương tự như đối với người lớn. Ở bệnh nhân cao tuổi, việc tăng liều cần có sự giám sát chặt chẽ để thu được đáp ứng điều trị thỏa đáng và an toàn.

Bệnh nhân nhi:

Không nên sử dụng mirtazapin cho trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi do hiệu quả của thuốc chưa được chứng minh trong 2 thử nghiệm lâm sàng ngắn hạn và do những quan ngại về độ an toàn

Suy thận:

Độ thanh thải của mirtazapin có thể giảm xuống ở bệnh nhân suy thận mức độ trung bình hoặc nặng (độ thanh thải creatinin < 40 ml/phút). Cần lưu ý đến điều này khi kê đơn mirtazapin cho nhóm bệnh nhân này (xem mục Những cánh báo đặc biệt và thận trọng khi sử dụng).

Suy gan:

Độ thanh thải của mirtazapin có thể giảm xuống ở bệnh nhân suy gan. Cần lưu ý đến điều nà kê đơn mirtazapin cho nhóm bệnh nhân này, đặc biệt là bệnh nhân suy gan nặng do bệt han suy gan nặng chưa được nghiên cứu

4.3. Chống chỉ định:

Quá mẫn với mirtazapin hoặc bất kì thành phần tá dược nào của thuốc.

Sử dụng đồng thời mirtazapin cùng với các thuốc ức chế monoamin oxidase (MAO) (xem mục Tương tác với các thuốc khác và các dạng tương tác khác).

4.4 Thận trọng:

Tự tử/ý nghĩ tự tử hoặc tình trạng lâm sàng xấu đi

Trầm cảm liên quan đến tăng nguy cơ ý nghĩ tự tử, tự gây tổn thương và hành động tự tử (biến cố liên quan tự tử). Nguy cơ này vẫn còn tồn tại cho đến khi bệnh thuyên giảm đáng kể. Do bệnh có thể không thuyên giảm trong một vài tuần đầu điều trị nên bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ cho đến khi đạt được sự thuyên giảm đáng kể đó. Kinh nghiệm lâm sàng nói chung cho thấy nguy cơ tự tử có thể tăng trong những giai đoạn hồi phục sớm.

Bệnh nhân với tiền sử có các biến cố liên quan đến tự tử hoặc bệnh nhân có biểu hiện rõ về ý nghĩ tự tử trước khi bắt đầu điều trị được biết là có nguy cơ lớn hơn về ý nghĩ tự tử hoặc cố gắng tự tử, và cần được theo dõi cẩn thận trong quá trình điều trị. Một phân tích tổng hợp các thử nghiệm lâm sàng đối chứng giả dược về thuốc chống trầm cảm ở bệnh nhân người lớn bị rối loạn tâm thần cho thấy nguy cơ gia tăng hành vi tự tử ở nhóm sử dụng thuốc chống trầm cảm so với nhóm dùng giả dược ở độ tuổi dưới 25.

Cần giám sát chặt chẽ bệnh nhân, đặc biệt là bệnh nhân có nguy cơ cao khi điều trị bằ ng thuốc chống trầm cảm, nhất là trong giai đoạn sớm của quá trìnhđiều trị và sau khi thay đổi liều dùng. Cần cảnh báo bệnh nhân (và người chăm sóc bệnh nhân) về sự cần thiết của việc giám sát bất kì dấu hiệu xấu đi nào trên lâm sàng, hành vi hoặc ý nghĩ tự tử cũng như những thay đổi bất thường trong hành vi và tham vấn bác sĩ ngay khí các triệu chứng này xuất hiện. Do nguy cơ tự tử, đặc biệt khi bắt đầu điều trị, chỉ nên sử dụng một số lượng hạn chế Viên nén Bao phim mirtazapin cho bệnh nhân.

Suy tủy xương

Suy tủy xương, biểu hiện thường là giảm bạch cầu hạt hoặc mất bạch cầu hạt, đã được báo cáo khi điều trị với mirtazapin. Chứng mất bạch cầu hạt có hồi phục đã được báo cáo với tần suất hiếm gặp trong các nghiên cứu lâm sàng với mirtazapin. Trong thời kỳ hậu mãi, có rất hiếm các ca mất bạch cầu hạt được báo cáo, hầu hết có thể hồi phục, tuy nhiên một số trường hợp dẫn tới tử vong. Các trường hợp tử vong chủ yếu liên quan đến những bệnh nhân trên 65 tuổi. Bác sĩ cần cảnh giác với các triệu chứng như sốt, đau họng, viêm miệng hoặc các dấu hiệu nhiễm khuẩn khác; khi những triệu chứng trên xảy ra, nên ngưng điều trị và làm xét nghiệm công thức máu.

Vàng da

Nên ngừng điều trị nếu tình trạng vàng da xuất hiện.

Các tình trạng cần phải giám sát

Cần lựa chọn liều dùng cẩn thận cũng như giám sát thường xuyên và chặt chẽ ở những bệnh nhân:

Động kinh và mắc hội chứng thực thể não: Mặc dù kinh nghiệm lâm sàng cho thấy các cơn động kinh hiếm khi xảy ra trong khi điều trị bằng mirtazapin, giống như các thuốc chống trầm cảm khác, nên dùng mirtazapin thận trọng ở những bệnh nhân có tiền sử động kinh. Nên ngừng điều trị ở bệnh nhân tiến triển cơn động kinh, hoặc khi có sự gia tăng tần xuất động kinh.

Suy gan: Sau khi sử dụng liều đơn 15 mg mirtazapin, độ thanh thải mirtazapin giảm khoảng 35% ở bệnh nhân suy gan nhẹ đến trung bình so với bệnh nhân có chức năng gan bình thường. Nồng độ mirtazapin trung bình trong huyết tương tăng khoảng 55%..

Suy thận: Sau khi sử dụng liều đơn 15 mg mirtazapin, ở bệnh nhân suy thận trung bình (độ thanh thải creatinin < 40 ml/phút) và suy thận nặng (độ thanh thải creatinin < 10 ml/phút) độ thanh thải mirtazapin giảm tương ứng khoảng 30% và 50%, so với bệnh nhân có chức năng thận bình thường. Nồng độ huyết tương trung bình của mirtazapin tăng tương ứng khoảng 55% và 115%. Không có sự khác biệt đáng kể nào được tìm thấy ở bệnh nhân suy thận nhẹ (độ thanh thải creatinin < 80 ml/phút) so với nhóm chứng.

Bệnh tim như rối loạn dẫn truyền, đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim gần đây, cần thận trọng và sử dụng cẩn thận các thuốc dùng đồng thời.

Huyết áp thấp.

Đái tháo đường: Ở bệnh nhân đái tháo đường, thuốc chống trầm cảm có thể làm thay đổi kiểm soát đường huyết. Liều lượng insulin và/hoặc thuốc hạ đường huyết đường uống có thể cần được điều chỉnh và giám sát chặt chẽ.

Tương tự như khi sử dụng các thuốc chống trầm cảm khác. Cần lưu ý những điểm sau:

Tình trạng xấu đi của các triệu chứng loạn thần có thế xuất hiện khi các thuốc chỗng trầm cảm được sử dụng cho bệnh nhân tâm thần phân biệt hoặc các bệnh loạn thần khác; các ý nghĩ hoang tưởng có thể nặng thêm.

Khi pha trầm cảm của rối loạn lưỡng cực đã được điều trị, nó có thể chuyển thành pha hưng cảm. Bệnh nhân có tiền sử hưng cảm/hưng cảm nhẹ cần được giám sát chặt chẽ. Nên ngừng sử dụng Mirtazapin ở những bệnh nhân chuyển sang pha hưng cảm.

Mặc dù mirtazapin không gây nghiện, kinh nghiệm hậu mãi cho thấy ngưng điều trị đột ngột mirtazapin sau khoảng thời gian dài dùng thuốc đôi khi có thể gây ra hội chứng cai thuốc. Hầu hết các phản ứng cai thuốc nhẹ và tự hạn chế. Trong số những triệu chứng cai thuốc khác nhau được báo cáo, thường gặp nhất là choáng váng, bồn chồn, lo âu, đau đầu và buồn nôn. Mặc dù được báo cáo như những triệu chứng cai thuốc nhưng những triệu chứng này có thể liên quan đến căn bệnh tiềm ẩn khác. Nên ngưng điều trị mirtazapin từ từ.

Cần thận trọng khi sử dụng cho bệnh nhân mặc các rối loạn tiểu tiện như phì đại tiền liệt, bệnh nhân mắc glôcôm góc hẹp cấp và tăng nhãn áp (mặc dù có ít nguy cơ gặp vấn đề với mirtazapin vì hoạt tính kháng cholinergic của mirtazapin rấtyếu).

Bồn chồn: việc sử dụng các thuốc chống trầm cảm có liên quan đến tiến triển triệu chứng bồn chồn, biểu hiện bằng khó chịu chủ quan hoặc bồn chỗn lo lắngvà cần di chuyến thường xuyên kèm theo không thể ngồi hoặc đứng yên. Tình trạng này thường xuất hiện trong vòng vài tuần điều trị đầu tiên. Ở bệnh nhân tiễn triển các triệu chứng này, tăng liều có thể gây hại.

Khoảng QT kéo dài: Đã có các báo cáo về khoảng QT kéo dài, xoắn đỉnh, nhịp nhanh thất và đột tử khi sử dụng mirtazapin trong giai đoạn hậu mãi. Đa số các báo cáo xảy ra có liên quan tới quá liều hoặc ở những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ khác về khoảng QT kéo dài, bao gồm việc dùng đồng thời với các thuốc làm kéo dài khoảng QTc (xem mục “Tương tác”, mục “Quá liều”). Thận trọng khi kê đơn cho những bệnh nhân đã biết bị bệnh tim mạch hoặc tiền sử gia đình có khoảng QT kéo dài, và khi dùng đồng thời với các thuốc được cho là làm kéo dài khoảng QTc.

Hạ natri máu

Tình trạng hạ natri huyết, có thể do bài tiết hocmon chống bài niệu không thích hợp (SIADH), đã được báo cáo là rất hiếm gặp khi sử dụng mirtazapine. Cần thận trọng ở những bệnh nhân có nguy cơ, chẳng hạn như những bệnh nhân cao tuổi hoặc bệnh nhân được điều trị đồng thời bằng các thuốc đã biết là gây hạ natri máu.

Hội chứng serotonin

Tương tác với các thuốc có hoạt tính serotonergic: Hội chứng serotonin có thể xảy ra khi sử dụng đồng thời với các chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI) với các chất có hoạt tính serotonergic khác. Các triệu chứng của hội chứng serotonin có thể tăng thân nhiệt, cứng đơ, giật rung cơ, bất ổn thần kinh tự chủ với những biến động nhanh chóng có thể có của các dấu hiệu sống còn, những thay đổi trạng thái tinh thần bao gồm lú lẫn, khó chịu và kích động quá mức dẫn đến mê sảng và hôn mê. Cần thận trọng và theo dõi lâm sàng chặt chẽ khi các chất này được kết hợp với mirtazapin. Nên ngưng điều trị bằng mirtazapin nếu các triệu chứng như vậy xảy ra và bắt đầu điều trị hỗ trợ, điều trị triệu chứng. Từ kinh nghiệm theo dõi sau khi đưa thuốc ra thị trường, hội chứng serotonin xuất hiện với tần suất rất hiếm gặp ở bệnh nhân được điều trị bằng mirtazapin đơn độc.

Bệnh nhân cao tuổi

Bệnh nhân cao tuổi thường nhạy cảm hơn, đặc biệt là với các tác dụng không mong muốn của các thuốc chống trầm cảm. Trong nghiên cứu lâm sàng với mirtazapin, các tác dụng không mong muốn được báo cáo ở người cao tuổi không nhiều hơn ở các nhóm tuổi khác.

Bệnh nhân nhi

Không nên sử dụng mirtazapin cho trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi. Trong các thử nghiệm lâm sàng, quan sát thấy các hành vi liên quan đến tự tử (ý nghĩ và mưu toan tự tử) và thù địch (gây hấn, hành vi chống đối và giận dữ) ở trẻ em và thanh thiếu niên được điều trị với thuốc chống trầm cảm thường xuyên hơn ở nhóm đối tượng dùng giả dược. Mặc dù vậy, dựa trên nhu cầu lâm sàng, nếu quyết định điều trị, bệnh nhân nên được theo dõi cẩn thận các dấu hiệu tự tử. Ngoài ra, chưa có dữ liệu an toàn khi theo dõi dài hạn ở trẻ em và thiếu niên liên quan đến tăng trưởng, trưởng thành cũng như sự phát triển nhận thức và hành vi.

Lactose monohydrat

Thành phần viên nén bao phim mirtazapin có chứa lactose. Bệnh nhân có các vấn đề di truyền hiếm gặp về không dung nạp galactose, thiếu hụt enzym Lapp lactase hoặc kém hấp thu glucose-galactose không nên dùng thuốc này.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Mirtazapin chỉ ảnh hưởng nhẹ hoặc trung bình đến khả năng lái xe và vận hành máy móc. Thuốc có thể làm giảm tập trung và sự tỉnh táo (đặc biệt trong giai đoạn đầu điều trị). Bệnh nhân cần tránh thực hiện các công việc có thể gây nguy hiểm, đỏi hỏi sự tỉnh táo và tập trung cao như lái xe hoặc vận hành máy móc vào bắt kì thời điểm nào bị ảnh hưởng. Mirtazapin ảnh hưởng mức độ trung bình đến khả năng lái xe và vận hành máy móc,

Mirtazapin có thể ảnh hưởng mức độ trung bình đến sự tập trung và tỉnh táo, đặc biệt khi bắt đầu điều trị. Cần cân nhắc điều này trước khi thực hiện các công việc đòi hỏi sự tỉnh táo và tập trung đặc biệt như lái xe và vận hành máy móc nguy hiểm. Tình trạng buồn ngủ, một biến cố bất lợi hay gặp cũng có thể là một nguy cơ.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B3

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Dữ liệu chưa đầy đủ về sử dụng mirtazapine ở phụ nữ có thai không cho thấy có nguy cơ gia tăng về các dị dạng bẩm sinh. Các nghiên cứu trên động vật không cho thấy bất kỳ tác dụng sinh quái thai nào liên quan đến lâm sàng, tuy nhiên độc tính tiến triển được quan sát thấy. Cần thận trọng khi kê thuốc cho phụ nữ mang thai. Nếu mirtazapin được sử dụng cho tới khi sinh hoặc ngay trước khi sinh, khuyến cáo giám sát trẻ sơ sinh để kiểm soát các tác dụng có thể gặp phải của việc ngừng thuốc..

Dữ liệu dịch tễ học cho thấy dùng thuốc SSRIs trong thời kỳ mang thai, đặc biệt là ở giai đoạn cuối thai kỳ, có thể làm tăng nguy cơ tăng áp động mạch phổi cố định ở trẻ sơ sinh (PPHN). Mặc dù chưa có nghiên cứu nào kiểm tra về sự liên quan giữa PPHN với điều trị bằng mirtazapine, không thể loại trừ nguy cơ tiềm tàng này do cơ chế tác dụng liên quan của thuốc (làm tăng nồng độ serotonin).

Thời kỳ cho con bú:

Các nghiên cứu trên động vật và dữ liệu có hạn trên người cho thấy mirtazapin được bài tiết vào sữa mẹ với lượng rất nhỏ. Quyết định tiếp tục/ngưng cho con bú hay tiếp tục/ngưng điều trị với mirtazapin nên căn cứ vào lợi ích của việc bú sữa mẹ đối với đứa trẻ và lợi ích của liệu pháp mirtazapin đối với người mẹ.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Bệnh nhân trầm cảm biểu hiện một số triệu chứng có liên quan đến bệnh. Do đó, đôi khi khó xác định được triệu chứng nào của bệnh và triệu chứng nào là kết quả của việc điều trị với mirtazapin.

Các phản ứng bất lợi thường gặp nhất, xảy ra hơn 5% bệnh nhân được điều trị với mirtazapin trong các thử nghiệm đối chứng giả dược ngẫu nhiên là buồn ngủ, an thần, khô miệng, tăng cân, tăng cảm giác ngon miệng, chóng mặt và mệt mỏi.

Tất cả các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng giả dược (bao gồm chỉ định khác ngoài bệnh trầm cảm) đều được đánh giá tác dụng không mong muốn của mirtazapin. Phân tích tổng hợp 20 thử nghiệm, với thời gian điều trị dự kiến lên tới 12 tuần, gồm 1501 bệnh nhân dùng liều mirtazapin lên đến 60 mg và 850 bệnh nhân dùng giả dược. Các pha mở rộng của các thử nghiệm này đã được loại bỏ để đảm bảo khả năng có thể so sánh được với trị liệu bằng giả dược.

Bảng 1 liệt kê các phản ứng bất lợi theo nhóm tần suất xuất hiện trong các thử nghiệm lâm sàng (mà tần suất của các phản ứng bất lợi này ở nhóm điều trị bằng mirtazapin cao hơn rõ rệt so với ở nhóm dùng giả dược) cùng với các phản ứng bất lợi ghi nhận được từ các báo cáo tự phát. Tần suất của các phản ứng bất lợi từ báo cáo tự phát dựa trên tỉ lệ báo cáo của các biến cổ này trong các thử nghiệm lâm sàng. Tần suất của những phản ứng bat lợi từ báo cáo tự phát không được ghi nhận trong các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng giả dược được phân loại là chưa rõ tần suất”.

Những tác dụng không mong muốn được phân nhóm theo tần suất: rất hay gặp (ADR ≥ 1/10), hay gặp (1/100 ≤ ADR < 1/10), ít gặp (1/1000 ≤ ADR < 1/100), hiếm gặp (1/10.000 ≤ ADR < 1/1000), rất hiếm gặp (ADR < 1/10.000) và chưa rõ tần suất (tần suất không ước tính được từ dữ liệu sẵn có):

Rất hay gặp, ADR > 1/10

Xét nghiệm: tăng cân1.

Rối loạn hệ thần kinh: ngủ gà1,4, an thần1,4, đau đầu2.

Rối loạn tiêu hóa: Khô miệng.

Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: Tăng thèm ăn1.

Hay gặp, 1/100 < ADR < 1/10

Rối loạn hệ thần kinh: Hôn mê1, chóng mặt, run

Rối loạn tiêu hóa: buồn nôn3, tiêu chảy2, nôn2.

Rối loạn da và mô mềm: Phát ban da.

Rối loạn mạch: Hạ huyết áp tư thế đứng.

Rối loạn toàn thân và phản ứng tại vị trí sử dụng: Phù ngoại vi1, mệt mỏi.

Rối loạn tâm thần: Mơ bất thường, lú lẫn, lo âu, mất ngủ,

Ít gặp, 1/1000 < ADR < 1/100

Rối loạn hệ thần kinh: Dị cảm2, chân không yên, ngất.

Rối loạn tiêu hóa: Giảm cảm giác ở miệng.

Rối loạn mạch: Hạ huyết áp2.

Rối loạn tâm thần: Ác mộng2, hàng cảm, kích động2, ảo giác, thần kinh thực vật không ổn định (kê cả bồn chồn, tăng động).

Hiếm gặp, 1/10000 < ADR < 1/1000

Rối loạn hệ thần kinh: Giật cơ.

Rối loạn tiêu hóa: Viêm tụy

Rối loạn gan mật: Tăng nồng độ transaminase trong huyết thanh.

Rối loạn tâm thần: Hung hăng.

Chưa rõ tần suất:

Rối loạn máu và hệ bạch huyết: Ức chế tủy xương (giảm bạch cầu hạt, mất bạch cầu hạt, thiếu máu bất sản giảm tiểu cầu), tăng bạch cầu ái toan.

Rối loạn hệ thần kinh: Co giật (chấn thương), hội chứng serotonin, dị cảm ở miệng, loạn vận ngôn.

Rối loạn tiêu hóa: Phù miệng, tăng tiết nước bọt.

Rối loạn da và mô mềm: Hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử thượng bì nhiễm độc, hồng ban đa dạng, ban da bỏng rộp.

Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: Giảm natri máu.

Rối loạn toàn thân và tại vị trí sử dụng: Mộng du.

Rối loạn tâm thần: Ý nghĩ tự tử6, hành vi tự tử6.

Rối loạn nội tiết: Tiết hormon chống lợi tiểu không thích hợp.

(1) Trong các thử nghiệm lâm sàng, những tác dụng phụ này xảy ra với tần suất thường xuyên hơn và có ý nghĩa thống kê trong quá trình điều trị bằng mirtazapin so với giả dược.

(2) Trong các thử nghiệm lâm sàng, những tác dụng phụ này xảy ra trong quá trình điều trị bằng giả dược thường xuyên hơn so với mirtazapin, tuy nhiên không có ý nghĩa thống kê.

(3) Trong các thử nghiệm lâm sàng, những tác dụng phụ này xảy ra trong quá trình điều trị bằng giả dược thường xuyên hơn so với mirtazapin.

(4) Ghi chú: Nhìn chung giảm liều không làm giảm buồn ngủ/an thần nhưng có thể làm mất hiệu quả điều trị.

(5) Nhìn chung tùy thuộc vào loại thuốc chống trầm cảm được dùng khi điều trị lo âu, mất ngủ (có thể là triệu chứng của trầm cảm) có thể xuất hiện hoặc trở nên trầm trọng hơn. Khi điều trị bằng mirtazapin, đã có báo cáo về sự xuất hiện hoặc diễn biến xấu hơn của chứng lo âu, mất ngủ.

(6) Đã có báo cáo về những trường hợp có ý nghĩ tự tử và hành vi tự tử trong quá trình điều trị bằng mirtazapin hoặc khi mới ngừng dùng thuốc

Trong xét nghiệm cận lâm sàng trong các thử nghiệm lâm sàng, tình trạng tăng thoáng qua transaminsae và gamma giutamyl transferase đã được ghi nhận (tuy nhiên, các biến cố bất lợi liên quan không được ghi nhận ở nhóm điều trị bằng mirtazapin với tần suất cao hơn có ý nghĩa thống kê so với ở nhóm dùng giả dược).

Bệnh nhân nhi:

Các biến cố bất lợi sau đây đã được ghi nhận với tần suất hay gặp trong các thử nghiệm lâm sàng trên trẻ em: tăng cân, mày đay và tăng triglycerid máu (xem thêm mục Đặc tính dược lực học).

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Tương tác dược lực học

Không nên sử dụng mirtazapine cùng với các thuốc ức chế MAO hoặc trong vòng 2 tuần sau khi ngừng điều trị bằng thuốc ức chế MAO. Theo cách ngược lại, trước khi các bệnh nhân điều trị bằng mirtazapine cần phải được điều trị bằng các thuốc ức chế MAO trong khoảng 2 tuần (xem mục Chống chỉ định).

Ngoài ra, cũng như các chất ức chế serotonin có chọn lọc tái hấp thu, sử dụng đồng thời với các chất có hoạt tính tiết serotonin khác (chế phẩm L-tryptophan, triptans, tramadol, linezolid, SSRIs, venlafaxine, lithi và các chế phẩm thảo dược St. John’s Wort – Hypericum perforatum) có thể xảy ra các tác động liên quan đến serotonin (hội chứng Serotonin: xem mục Cảnh báo). Khuyến cáo nên thận trọng và cần theo dõi sát trên lâm sàng khi các hoạt chất này được kết hợp với mirtazapine.

Mirtazapine có thể tăng cường tác dụng an thần của thuốc benzodiazepine và thuốc an thần khác (nhất là hầu hết các thuốc chống loạn thần, các thuốc đối kháng kháng histamine H1, các thuốc dạng thuốc phiện). Cần thận trọng khi kê toa những thuốc này cùng với mirtazapine.

Mirtazapine có thể tăng cường tác dụng ức chế thần kinh trung ương của rượu. Do đó, nên khuyên bệnh nhân không sử dụng đồ uống có cồn trong khi điều trị với mirtazapine.

Sử dụng mirtazapin ở mức liều 30 mg, ngày một lần, gây tăng nhẹ nhưng có ý nghĩa thống kê chỉ số chuẩn hóa quốc tế (INR) ở những bệnh nhân điều trị bằng warfarin. Do khi dùng liều mirtazapin cao hơn, không thể loại trừ ảnh hưởng rõ rệt hơn, cần giám sát chỉ số INR trong trường hợp điều trị đồng thời bằng warfarin và mirtazapin

Tương tác dược động học

Carbamazepine và phenytoin, các chất gây cảm ứng CYP3A4, làm tăng thanh thải mirtazapine lên khoảng 2 lần, dẫn đến làm giảm nồng độ huyết tương trung bình của mirtazapine lần lượt 60% và 45%. Khi carbamazepine hoặc bất kỳ chất gây cảm ứng khác chuyển hóa ở gan (chẳng hạn như rifampicin) được bổ sung vào liệu pháp mirtazapine, liều dùng mirtazapine có thể được tăng lên. Nếu ngừng điều trị bằng thuốc này, có thể cần phải giảm liều dùng của mirtazapine.

Dùng đồng thời với ketoconazole, thuốc ức chế CYP3A4 mạnh, làm tăng nồng độ đỉnh trong huyết tương và diện tích dưới đường cong (AUC) của mirtazapine lần lượt xấp xỉ 40% và 50%.

Khi dùng cimetidine (thuốc ức chế yếu CYP1A2, CYP2D6 và CYP3A4) cùng với mirtazapine, nồng độ trung bình trong huyết tương của mirtazapine có thể tăng hơn 50%. Cần thận trọng và có thể giảm liều dùng khi sử dụng đồng thời mirtazapine cùng với các thuốc ức chế CYP3A4 mạnh, thuốc ức chế HIV-protease, thuốc chống nấm azole, erythromycin, cimetidine hoặc nefazodone.

Các nghiên cứu về tương tác không chỉ ra bất kỳ tác động dược động học nào khi điều trị đồng thời bằng mirtazapine cùng với paroxetine, amitriptyline, risperidone hoặc lithium.

Bệnh nhân nhi:

Các nghiên cứu về tương tác thuốc chỉ được tiến hành trên người lớn.

4.9 Quá liều và xử trí:

Kinh nghiệm hiện tại liên quan đến quá liều mirtazapin đơn trị cho thấy các triệu chứng thường nhẹ. Ức chế hệ thần kinh trung ương kèm mất phương hướng và an thần kéo dài đã được báo cáo, cùng với nhịp tim nhanh và tăng hay hạ huyết áp nhẹ. Tuy nhiên, có thể xảy ra những hậu quả nghiêm trọng hơn (kể cả tử vong) khi dùng liều cao hơn rất nhiều so với liều điều trị, đặc biệt là khi quá liều hỗn hợp. ệnh nhân quá liều cần được điều trị triệu chứng và hỗ trộ thích hợp các chức năng sinh tồn. Cũng nên cân nhắc sử dụng than hoạt tính hoặc rửa dạ dày.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Phân loại dược lý: Thuốc chống trầm cảm.

Mã ATC: N06AX11.

Cơ chế tác dụng

Mirtazapin là một thuốc đối kháng thụ thể α2 tiền synap có tác dụng trung ương, làm tăng sự dẫn truyền thần kinh noradrenergic và serotonergic trung ương. Sự tăng cường dẫn truyền thần kinh serotonergic thông qua trung gian đặc hiệu là các thụ thể 5-HT1, do các thụ thể 5-HT2 và 5-HT3 đã bị chẹn bởi mirtazapin. Cả hai dạng đồng phân đối quang của mirtazapin đều góp phần vào hoạt tính chống trầm cảm, theo đó, đồng phân đối quang S(+) chẹn thụ thể α2 và 5-HT2, đồng phân đối quang R(-) chẹn thụ thể 5-HT3.

Hoạt tính kháng histamin H1 của mirtazapin có liên quan đến đặc tính an thần của thuốc. Thực tế, mirtazapin không có hoạt tính đối kháng choninergic, và ở liều điều trị thuốc không có ảnh hưởng lên hệ tim mạch.

Bệnh nhân nhi:

Hai thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược trên trẻ em 7-18 tuổi bị rối loạn trầm cảm (n=259) sử dụng liều linh hoạt trong 4 tuần đầu tiên (30-45 mg mirtazapin), sau đó dùng liều cố định (15, 30, 45 mgmirtazapin) trong 4 tuần điều trị tiếp theo, không thấy có sự khác biệt đáng kể giữa mirtazapin và giả dược ở tiêu chí chính và tất cả các tiêu chí phụ.Tăng cân đáng kể (≥7%) đã được quan sát thấy ở 48% đối tượng sử dụng mirtazapin, so với 5,7% đối tượng ở nhóm dùng giả dược. Mày đay (11,8% so với 6,8%) và tăng triglycerid máu (2,9% và 0%) cũng thường được ghi nhận.

Cơ chế tác dụng:

Cơ chế tác dụng của mirtazapin hiện chưa được biết rõ. Có những bằng chứng từ thực nghiệm cho thấy mirtazapin làm tăng cường hoạt tính noradrenergic và serotoninergic trung ương có thể do tác dụng đối kháng thụ thể alpha2 adrenergic tiền synap ở thần kinh trung ương. Mirtazapin không có ái lực với thụ thể 5HT-1A và 5HT-1B của serotonin. Ngoài ra, mirtazapin còn đối kháng mạnh thụ thể 5HT-2 và 5HT-3 của serotonin đồng thời đối kháng ở mức độ trung bình với thụ thể muscarinic. Mirtazapin có tác dụng gây ngủ do đối kháng mạnh thụ thể H của histamin và có tác dụng gây hạ huyết áp tư thế do đối kháng thụ thể alphal-adrenergic ở ngoại vi.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu

Sau khi uống, mirtazapin được hấp thu tốt và nhanh chóng (sinh khả dụng gần 50%), đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương sau khoảng 2 giờ.

Liên kết với protein huyết thanh:

Tỉ lệ mirtazapin liên kết với protein huyết tương là khoảng 85%.

Chuyển hóa và thải trừ

Thời gian bán thải trung bình là 20-40 giờ. Các mức thời gian bán thải dài hơn, tới 65 giờ đôi khi được ghi nhận và thời gian bán thái ngắn hơn đã được ghi nhận ở nam giới trẻ tuổi. Thời gian bán thải của thuốc đủ dài để có thể áp dụng chế độ liều ngày một lần. Trạng thái ổn định đạt được sau 3- 4 ngày, sau đó không có hiện tượng tích lũy thêm. Mirtazapin có dược động học tuyến tính trong khoảng liều đề nghị. Thức ăn không ảnh hưởng đến dược động học của mirtazapin.

Mirtazapin bị chuyển hóa mạnh rồi đào thải qua nước tiểu và phân trong vòng vài ngày. Đường chuyển hóa chính là demethyl và oxy hóa, sau đó là liên hợp. Dữ liệu in vitro từ microsom gan người cho thấy cytochrom P450 CYP2D6 và CYP1A2 tham gia vào quá trình tạo thành chất chuyển hóa 8-hydroxy của mirtazapin trong khi CYP3A4 được cho là chịu trách nhiệm cho sự hình thành các chất chuyển hóa N-demethyl và N-oxid. Chất chuyển hóa demethyl có hoạt tính dược lý và có dược động học giống như chất ban đầu.

Suy thận và suy gan:

Độ thanh thải của mirtazapin có thể giảm xuống do suy thận hoặc gan.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Lõi viên: Lactose monohydrat, tỉnh bột ngô, povidon, keo silica khan, lactose phun kh6 (lactose monohydrat), magnesi stearat.

Bao phim: Opadry 02G26637 nâu gồm: Hydroxypropyl methylcelulose 2910 5cp, titan dioxid (E171), macrogol 400, macrogol 6000, oxidsat vang (E172), oxid sắt đỏ (E172).

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Viên nén có chứa mirtazapin phải được bảo quản trong bao bì kín, tránh ánh sáng, tránh ấm và ở nhiệt độ dưới 30 oC.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM