1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Insulin Isophane
Phân loại: Hormon làm hạ glucose máu, hormon chống đái tháo đường, các insulin tác dụng trung gian
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): A10AC01
Biệt dược gốc:
Biệt dược: Wosulin-N
Hãng sản xuất : Wockhardt Limited
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Hỗn dịch tiêm Isophane Insulin USP (Gốc DNA tái tổ hợp)
Hỗn dịch tiêm 100 đv/ml. Hộp 1 ống 3ml
Hỗn dịch tiêm 40 đv/ml. Hộp 1 lọ 10ml
Thuốc tham khảo:
| WOSULIN-N | ||
| Mỗi ml dung dịch tiêm có chứa: | ||
| Insulin Isophane | …………………………. | 40 IU |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Wosulin N được chỉ định như sau:
Điều trị cho tất cả bệnh nhân đái tháo đường týp 1.
Điều trị tất cả bệnh nhân đái tháo đường týp 2 không kiểm soát đầy đủ được bằng chế độ ăn kiêng và/hoặc bằng thuốc uống hạ đường máu.
Điều trị ổn định bước đầu cho bệnh đái tháo đường toan huyết do nhiễm ceton máu, hội chứng tăng thẩm thấu nhưng không nhiễm ceton và trong những giai đoạn bị stress như nhiễm khuẩn nặng và đại phẫu ở những bệnh nhân đái tháo đường.
Điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường đang mang thai.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Wosulin-N được tiêm dưới da bụng, đùi, mông hoặc vùng cơ delta.
Để tránh teo mô mỡ, nên thay đổi chỗ tiêm thuốc thường xuyên. Nên tiêm insulin sau các bữa ăn hoặc bữa ăn nhẹ có carbohydrat trong vòng 30 phút.
Có thể phải điều chỉnh liều nếu bệnh nhân tăng vận động hoặc thay đổi chế độ ăn thông thường.

Liều dùng:
Liều Wosulin-N theo chỉ định của bác sĩ, dựa trên tình trạng bệnh nhân. Với Wosulin-N điều quan trọng là phải sử dụng đúng loại bơm tiêm có chia liều, ví dụ, loại dùng cho chế phẩm 40 UI hay100 UI. Sử dụng bơm tiêm không thích hợp có thể dẫn đến sai liều, gây nguy hiểm cho bệnh nhân như hạ hoặc tăng glucose huyết nặng.
Tổng liều insulin cần thiết trung bình hàng ngày để điều trị duy trì cho bệnh nhân đái tháo đường týp 1 từ 0,5 – 1 IU/kg. Với trường hợp kháng insulin, nhu cầu insulin hàng ngày có thể cao hơn.
Ở những bệnh nhân đái tháo đường týp 2, nhu cầu insulin thấp hơn tức là khoảng 0.3-0.6 IU/kg/ngày.
SỬ DỤNG VỚI NHỮNG INSULIN KHÁC
Thuốc tiêm Wosulin-N có thể được kết hợp insulin người tiêu chuẩn.
4.3. Chống chỉ định:
Wosulin-N chống chỉ định trong những trường hợp sau:
Chứng giảm glucose máu.
Quá mẫn với insulin
4.4 Thận trọng:
Thay đổi loại insulin
Khi bệnh nhân muốn thay đổi để dùng một loại insulin khác, phải được theo dõi cẩn thận. Những thay đổi về hàm lượng, tên thương mại (nhà sản xuất), loại thuốc (insulin tác dụng nhanh, tác dụng trung gian, hay tác dụng kéo dài, v.v…), nguồn gốc (insulin động vật hay người), và/hoặc phương pháp của nhà sản xuất (tái tổ hợp hay có nguồn gốc động vật) cũng có thể phải thay đổi liều. Bệnh nhân khi chuyển sang dùng Wosulin 30/70 có thể phải thay đổi liều so với loại insulin người bệnh đã dùng trước đó.
Xét nghiệm
Như với tất cả các loại insulin, sự đáp ứng điều trị với insulin người phải được theo dõi bằng xét nghiệm đường huyết định kỳ. Nên định kỳ kiểm tra lượng hemoglobin glycosyl hóa để kiểm soát glucose huyết lâu dài
Suy thận: Nhu cầu insulin có thể giảm ở những bệnh nhân suy thận.
Suy gan: Mặc dù suy gan không ảnh hưởng đến sự hấp thu hoặc phân phối Wosulin N, nhưng nên giám sát cẩn thận và điều chỉnh liều insulin
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Khả năng tập trung và phản ứng của của bệnh nhân có thể giảm khi hạ đường huyết. Điều này có thể gây rủi ro khi đang làm những việc quan trọng như lái xe hoặc vận hành máy.
Vì vậy,khuyên bệnh nhân tránh để bị hạ đường huyết khi lái xe. Điều này đặc biệt quan trọng ở những bệnh nhân khó nhận biết được dấu hiệu hạ đường huyết hoặc đường huyết thất thường
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: NA
US FDA pregnancy category: B
Thời kỳ mang thai:
Khi mang thai: Không có hạn chế nào về việc sử dụng insulin vì thuốc không qua được hàng rào nhau thai. Những nghiên cứu đã công bố với insulin người cho thấy rằng việc kiểm soát đường máu tối ưu bao gồm cả kiểm soát sau bữa ăn, trước khi thụ thai và trong khi mang thai để giảm ảnh hưởng cho thai nhi. Mặc dù các biến chứng cho thai nhi của bà mẹ bị đái tháo đường đã được chứng minh rõ ràng, nhưng độc tính lên thai nhi cũng được báo cáo với bà mẹ bị chứng hạ đường huyết. Nhu cầu insulin thường giảm trong ba tháng đầu của thai kỳ và tăng trong ba tháng thứ hai và thứ ba của thai kỳ. Cần theo dõi cẩn thận cho bệnh nhân trong suốt thời kỳ mang thai. Trong thời gian trước và sau khi sinh, cần kiểm tra trẻ sơ sinh và bà mẹ bị bệnh đái tháo đường
Thời kỳ cho con bú
Bà mẹ nuôi con bú: Không có qui định nghiêm ngặt nào khi dùng insulin cho bà mẹ đang nuôi con bú vì điều trị insulin cho bà mẹ không gây nguy cơ cho trẻ bú sữa. Tuy nhiên, nên thận trọng và nên giảm liều khi dùng cho bà mẹ nuôi con bú.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Các tác dụng bất lợi thường gặp nhất với insulin là:
(1). Chứng hạ đường huyết: Chứng hạ glucose máu là một trong những tác dụng bất lợi thường gặp nhất khi sử dụng bất kỳ loại insulin nào kể cả insulin người. Điều này có thể xảy ra vì:
Sử dụng quá nhiều insulin,
Bỏ bữa hoặc chậm dùng bữa,
Nhiễm khuẩn hoặc ốm
Vận động quá mức.
Những bệnh của tuyến thượng thận, tuyến yên, hoặc tuyến giáp hoặc sự tiến triển bệnh thận, gan cũng có thể dẫn đến chứng hạ glucose máu.
Dùng cùng lúc với những thuốc khác làm hạ glucose máu như thuốc hạ glucose máu, salicylat (ví dụ aspirin), các sulfamit, và các thuốc chống trầm cảm có thể dẫn đến chứng hạ glucose máu.
Dùng đồng thời thức uống có chứa cồn có thể dẫn đến chứng hạ glucose máu. Những triệu chứng của chứng hạ glucose máu nhẹ đến trung bình có thể diễn ra đột ngột và có thể bao gồm: ra mồ hôi, choáng váng, hồi hộp, run rẩy, đói, bồn chồn, ngứa bàn tay, bàn chân, môi hoặc lưỡi, cảm giác lâng lâng, khó tập trung, nhức đầu, buồn ngủ, rối loạn giấc ngủ, lo âu, mờ mắt, nói lắp, trầm cảm, kích ứng, tính tình bất thường, loạng choạng, thay đổi nhân cách.
Những dầu hiệu của chứng hạ đường máu nặng có thể bao gồm: mất định hướng, ngất, động kinh, tử vong.
Vì thế, điều quan trọng là phải điều trị hỗ trợ ngay.
Những dấu hiệu cảnh báo của chứng hạ đường máu có thể khác hoặc ít rõ ràng hơn dưới những tình trạng cụ thể như bệnh đái tháo đường lâu, bệnh thần kinh do đái tháo đường, dùng đồng thời các thuốc chẹn beta, thay đổi chế phẩm insulin, hoặc tăng liều (3 hoặc 4 lần tiêm insulin mỗi ngày).
Sử dụng chế phẩm Wosulin N có thể hạn chế được tỷ lệ xảy ra phản ứng bất lợi do dùng insulin có nguồn gốc động vật.
(2). Phù và dị dạng: Có thể xảy ra khi bắt đầu điều trị insulin. Những triệu chứng này thường chỉ trong thời gian ngắn.
(3). Chứng tăng đường máu và toan huyết nhiễm ceton.
Ở những bệnh nhân đái tháo đường phụ thuộc insulin: chứng tăng đường máu kéo dài có thể dẫn đến nhiễm acid do đái tháo đường. Những triệu chứng đầu tiên của toan huyết do đái tháo đường thường xuất hiện dần dần, trong vài giờ hoặc vài ngày, bao gồm cảm giác buồn ngủ, mặt đỏ bừng, khát nước, ăn không ngon và hơi thở có mùi. Khi toan huyết, xét nghiệm nước tiểu cho thấy một lượng lớn glucose và aceton. Nặng hơn sẽ thở mạnh và mạch nhanh. Nếu không được điều chỉnh, chứng tăng đường máu kéo dài hoặc toan huyết do bệnh đái tháo đường có thể dẫn đến ngất hoặc tử vong. Do vậy, quan trọng là phải được điều trị bổ trợ và xử lý kịp thời.
(4). Dị ứng với insulin:
Dị ứng toàn thân: ít gặp nhưng đôi khi khá trầm trọng, đó là dị ứng toàn thân với insulin, có thể gây nổi mẩn toàn thân, khó thở, thở khò khè, hạ huyết áp, mạch nhanh, hoặc ra mồ hôi. Những trường hợp nặng của dị ứng toàn thân có thể đe dọa tính mạng.
Dị ứng tại chỗ: đôi khi, bệnh nhân bị đỏ, sưng và ngứa tại chỗ tiêm insulin. Tình trạng này gọi là dị ứng tại chỗ, thường hết trong vài ngày đến vài tuần. Trong vài trường hợp, tình trạng này có thể liên quan đến vài yếu tố không phải insulin, như chất kích ứng trong thuốc làm sạch da.
(5). Teo và loạn dưỡng mô mỡ: Loạn dưỡng mô mỡ xảy ra tại chỗ tiêm khi dùng thuốc dài ngày. Tuy nhiên, điều này ít gặp với những chế phẩm insulin mới hơn.
(6). Kháng insulin:
Khi nhu cầu insulin tăng (>200 IU/ngày), người ta cho là kháng insulin. Sau đây là những mức độ khác nhau của sự kháng insulin.
Cấp: kháng insulin cấp phát triển nhanh và trong thời gian ngắn. Điều này thường xảy ra do nhiễm khuẩn, chấn thương, phẫu thuật và stress. Điều trị là khắc phục yếu tố gây phản ứng và dùng liều cao insulin.
Mạn: Loại kháng insulin này thường gặp ở những bệnh nhân điều trị trong nhiều năm với chế phẩm cũ là insulin của bò hoặc lợn và thường gặp hơn ở những bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Gặp trường hợp này, cần cho bệnh nhân đổi dùng chế phẩm insulin mới hơn. Sau khi bắt đầu chế phẩm insulin mới, nhu cầu insulin giảm dần trong vài tuần và vài tháng và đa số bệnh nhân ổn định định vào khoảng 60 IU/ngày
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Các phản ứng dị ứng tại chỗ có thể xảy với bất cứ loại insulin nào và có thể xảy ra trong vòng 1- 3 tuần sau khi bắt đầu điều trị. Các phản ứng tại chỗ thường tương đối nhẹ và thường hết trong vài ngày hoặc tuần. Kỹ thuật tiêm kém cũng góp phần vào phản ứng tại chỗ. Biểu hiện mẫn cảm tức thì thường xảy ra trong vòng 30 – 120 phút sau khi tiêm, có thể kéo dài trong vài giờ hoặc ngày và thường tự hết. Dị ứng insulin thực sự hiếm có, biểu hiện bằng nổi mày đay toàn thân, nốt phỏng, khó thở, thở khò khè (wheezing), hạ huyết áp, tim đập nhanh, vã mồ hôi, phù mạch và phản vệ. Các phản ứng này chủ yếu xảy ra khi dùng insulin ngắt quãng hoặc ở người có kháng thể kháng insulin tăng trong máu. Nhiều trường hợp nặng đòi hỏi phải sẵn sàng cấp cứu. Người bệnh nào đã có phản ứng dị ứng nặng phải được làm test da trước khi dùng bất cứ thuốc insulin mới nào. Có thể giải mẫn cảm cho người bệnh có tiềm năng dị ứng. Vì thường hay bị dị ứng với insulin bò hoặc lợn, hoặc protamin, hoặc protein, có thể ngăn chặn các phản ứng dị ứng về sau bằng cách thay thế một insulin chứa ít protein (như các insulin tinh chế bao gồm insulin người) hoặc không chứa protamin.
Nếu có hiệu ứng Somogyi, giảm liều buổi chiều insulin tác dụng trung gian hoặc tăng bữa phụ tối. Nếu có hiện tượng bình minh, tăng liều buổi tối insulin tác dụng trung gian và/hoặc tiêm muộn (như tiêm vào lúc đi ngủ, không tiêm vào bữa chiều).
ADR phổ biến nhất của insulin là hạ glucose huyết và có thể cả hạ kali huyết. Đặc biệt chú ý đến người có nguy cơ cao như đói, có đáp ứng kém chống lại hạ glucose huyết (như người bệnh có bệnh thần kinh thực vật, suy tuyến yên hoặc thượng thận, người dùng thuốc chẹn beta) hoặc người dùng thuốc giảm kali. Nồng độ glucose và kali huyết phải được theo dõi sát khi insulin được truyền tĩnh mạch. Thay đổi nhanh nồng độ glucose huyết có thể thúc đấy biểu hiện hạ glucose huyết bất luận nồng độ glucose huyết là bao nhiêu. Có thể giảm nguy cơ tiềm ấn hạ glucose huyết muộn sau ăn do insulin tác dụng nhanh bằng thay đổi giờ ăn, số lần ăn, lượng ăn, thay đổi tập luyện, giám sát thường xuyên glucose huyết, điều chỉnh liều insulin và/hoặc chuyển sang insulin tác dụng nhanh hơn (như insulin lispro, insulin glulisin). Hạ glucose huyết nặng và thường xuyên xảy ra là một chỉ định tuyệt đối thay đổi phác đồ điều trị. Người đái tháo đường trước khi lái xe, phải kiểm tra glucose huyết và phải có biện pháp tránh hạ glucose huyết (nguồn cung cấp glucose) trên xe.
Xử lý hạ glucose huyết: Đối với hạ glucose nhẹ, tốt nhất là cho qua miệng 10 – 20 g glucose, hoặc bất cứ thức ăn dạng carbohydrat chứa glucose như nước cam hoặc nước quả, đường, đường phèn… Liều lượng có thể lặp lại 15 phút sau nếu glucose huyết vẫn dưới 70 mg/dl (tự đo) hoặc vẫn còn triệu chứng của hạ glucose huyết. Một khi glucose huyết trở lại bình thường, nên ăn một bữa nếu gần đến giờ ăn hoặc ăn một bữa phụ.
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Nhu cầu insulin có thể tăng lên khi dùng một số thuốc có tác dụng tăng glucose huyết như corticoid, isoniazid, các thuốc hạ lipid máu (như niacin), thuốc tránh thai dạng uống, estrogen, phenothiazin, và liệu pháp cắt tuyến giáp.
Nhu cầu insulin có thể giảm, khi dùng đồng thời các thuốc gây hạ đường huyết như các thuốc hạ đường huyết dạng uống, các salicylat, sulfamit, các thuốc chống trầm cảm (I-MAO), các thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn bêta, các thuốc ức chế chức năng tuyến tụy, và rượu. Các thuốc chẹn beta adrenergic có thể che lấp triệu chứng hạ đường huyết ở một vài bệnh nhân.
4.9 Quá liều và xử trí:
Chứng giảm glucose máu có thể gặp do thừa insulin liên quan đến việc dùng thực phẩm, tiêu năng lượng hoặc cả hai. Giai đoạn nhẹ của chứng tăng glucose máu có thể được điều trị bằng glucose uống. Vì vậy, bệnh nhân đái tháo đường nên luôn luôn mang theo đường, kẹo, bánh hoặc nước ép trái cây có đường. Điều chỉnh liều thuốc, bữa ăn, hoặc vận động có thể cần thiết.
Giai đoạn nặng hơn của chứng tăng glucose máu có hôn mê, hoặc tổn thương thần kinh có thể được điều trị bằng glucagon tiêm bắp hoặc tiêm dưới da hoặc glucose đậm đặc tiêm tĩnh mạch. Phải cho tiêm tĩnh mạch Glucose nếu bệnh nhân không đáp ứng với glucagon trong vòng 10-15 phút. Nếu cần, cho dùng carbohydrat kéo dài và theo dõi vì chứng hạ đường huyết có thể tái phát sau khi đã hồi phục lâm sàng
Khi bệnh nhân tỉnh lại cần cho dùng thức ăn có chứa carbohydrate để phòng ngừa tái phát.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
WOSULIN-N là một insulin isophane người tái tổ hợp, được tổng hợp từ một chủng nấm men Hansenula polymorpha không gây bệnh trong phòng thí nghiệm đặc biệt. Từ tế bào vật chủ, người ta cấy gen để biến đổi tạo ra insulin người bằng kỹ thuật tái tổ hợp.
Đó là một hỗn dịch insulin người ở dạng vô định hình và kết tinh có kẽm tạo một insulin tác động trung gian, xuất hiện tác dụng chậm hơn và kéo dài hơn insulin tiêu chuẩn.
Sự xuất hiện tác dụng của Wosulin-N phụ thuộc vào liều, vị trí tiêm thuốc, tưới máu, nhiệt độ và vận động của cơ thể. Thời gian xuất hiện tác dụng khoảng 1-2 giờ, đạt nồng độ đỉnh tong khoảng từ 6-12 giờ, thời gian tác dụng khoảng 18-24 giờ. Thời gian tác dụng của insulin thay đổi theo cơ địa và thời điểm dùng thuốc.
Thuốc là một dung dịch vô trùng, chỉ tiêm dưới da, không tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp.
Cũng như tất cả insulin khác, tác dụng làm hạ glucose của Wosulin N là nhờ sự hấp thu glucose vào mô được thuận lợi. Sự hấp thu này xảy ra sau khi insulin gắn vào thụ thể trên cơ và mô mỡ. Tác dụng làm giảm đường máu xảy ra được cũng nhờ sự ức chế đồng thời lượng glucose tiết ra từ gan.
Cơ chế tác dụng:
Insulin ngoại sinh thường có tất cả các tác dụng dược lý của insulin nội sinh. Insulin kích thích chuyển hóa carbohydrat ở mô cơ – xương, tim và mỡ bằng cách tạo thuận lợi cho quá trình vận chuyển glucose vào trong tế bào. Mô thần kinh, hồng cầu, và các tế bào ở ruột, gan và ống thận không cần insulin để vận chuyển glucose. Ớ gan, insulin tạo thuận lợi cho phosphoryl hóa glucose thành glucose-6-phosphat, chất này được chuyển thành glycogen hoặc chuyển hóa tiếp.
Insulin cũng tác dụng trực tiếp đến chuyển hóa mỡ và protein. Hormon này kích thích tạo mỡ và ức chế tiêu mỡ và giải phóng acid béo tự do từ các tế bào mỡ. Insulin cũng kích thích tổng hợp protein. Cho insulin với liều thích hợp cho người đái tháo đường týp 1 (phụ thuộc insulin) phục hồi nhất thời khả năng chuyển hóa carbohydrat, mỡ và protein, để dự trữ glucose ở gan và để chuyển glycogen thành mỡ. Khi insulin với liều thích hợp cho cách đều nhau cho người đái tháo đường, nồng độ hợp lý glucose trong máu được duy trì, nước tiểu tương đối không có glucose và chất ceton, ngăn chặn được nhiễm toan đái tháo đường, hôn mê. Tác dụng của insulin bị đối kháng bởi somatropin (hormon tăng trưởng), epinephrin, glucagon, hormon vỏ tuyến thượng thận, tuyến giáp và estrogen. Insulin kích thích kali và magnesi chuyển vào trong tế bào, do đó tạm thời làm giảm nồng độ tăng cao của các ion đó.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Insulin có thời gian bán thải trong máu chỉ vài phút. Thời gian tác dụng của insulin thay đổi nhiều tùy từng người và thời điểm dùng thuốc. Cũng như với tất cả chế phẩm insulin, cường độ và thời gian tác dụng của Wosulin-N phụ thuộc vào liều, vị trí tiêm thuốc, tưới máu, nhiệt độ và vận động của cơ thể.
Những thời gian tác động trung bình như sau:
Xuất hiện tác dụng trong vòng 1-2 giờ.
Nồng độ đỉnh đạt được từ 2-12 giờ.
Thời gian tác dụng khoảng 18-24 giờ
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
m-cresol USP – chất bảo quản 0.16% kl/tt
Phenol USP– chất bảo quản 0.065% kl/tt
Nước cất pha tiêm USP vđ
6.2. Tương kỵ :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
6.3. Bảo quản:
Wosulin N phải được bảo quản trong tủ lạnh (2-8°C) không làm đông lạnh. Khi sử dụng, lọ có thể ở nhiệt độ phòng (15 – 25°C) đến 4 tuần. Không để nơi nóng hoặc ánh sáng trực tiếp.
Giữa ngoài tầm với của trẻ em.
Chế phẩm insulin bị đông lạnh phải bỏ đi.
Sau khi mở (khi nắp mở, hoặc lớp niêm bị đâm thủng bằng kim; insulin được giữ ở nhiệt độ phòng. Insulin lạnh có thể kích ứng khi tiêm, vì thế bệnh nhân nên lăn lọ 10 lần trong bàn tay trước khi rút thuốc vào ống tiêm (sau khi để lọ thuốc ở nhiệt độ phòng trong 30 phút, nếu lọ được bảo quản trong tủ lạnh).
6.4. Thông tin khác :
Thông tin cho bệnh nhân
Nên nhớ tên biệt dược và loại insulin được kê đơn.
Không bao giờ để insulin ở nhiệt độ quá cao.
Chỉ sử dụng đúng nồng độ insulin đã kê đơn (40 IU hoặc 100 IU) với đúng loại bơm tiêm.
Các lọ insulin có một nắp có màu bảo vệ, phải mở ra trước khi sử dụng. Nếu nắp nhựa bị lỏng hoặc mất, trả lại lọ thuốc cho hiệu thuốc.
Wosulin không chứa insulin lấy từ động vật.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam
Hoặc HDSD Thuốc.
7. Người đăng tải /Tác giả:
Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.
Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM