Infliximab

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Infliximab

Phân loại: Thuốc chống thấp khớp có cải thiện bệnh trạng (DMARDs). Thuốc ức chế miễn dịch. Thuốc ức chế TNF alfa

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L04AB02.

Brand name: Remicade.

Generic : Infliximab, Remsima

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Bột đông khô pha dung dịch đậm đặc để pha dung dịch tiêm truyền 100 mg.

Thuốc tham khảo:

REMICADE® 100 mg
Mỗi lọ bột đông khô pha tiêm truyền có chứa:
Infliximab …………………………. 100 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Người lớn và trẻ em mắc bệnh Crohn:

Infliximab được chỉ định nhằm: giảm các dấu hiệu và triệu chứng, thúc đẩy và duy trì thuyên giảm bệnh trên lâm sàng, thúc đẩy và duy trì quá trình lành tổn thương niêm mạc ở người lớn, giảm hoặc ngừng điều trị corticosteroid ở người lớn, cải thiện chất lượng cuộc sống cho các bệnh nhân mắc bệnh Crohn thể hoạt động ở mức độ trung bình đến nặng. Infliximab có thể dùng đơn trị liệu hoặc phối hợp với các thuốc khác trong phác đồ điều trị thông thường.

Bệnh Crohn gây ra lỗ rò:

Infliximab được chỉ định nhằm: giảm số lượng lỗ rò từ đường ruột qua da và lỗ rò trực tràng âm đạo, duy trì củng cố quá trình khép kín các lỗ rò, giảm các dấu hiệu và triệu chứng, cải thiện chất lượng cuộc sống cho các bệnh nhân bị bệnh Crohn gây ra lỗ rò.

Người lớn và trẻ em mắc bệnh viêm loét đại tràng:

Infliximab được chỉ định nhằm: giảm dấu hiệu và triệu chứng, thúc đẩy và duy trì thuyên giảm bệnh trên lâm sàng, thúc đẩy và duy trì lành tổn thương niêm mạc, giảm hoặc chấm dứt việc sử dụng corticosteroid, cải thiện chất lượng cuộc sống ở người lớn, giảm các trường hợp phải nhập viện có liên quan tới bệnh viêm loét đại tràng ở người lớn, giảm tỷ lệ bệnh nhân phải cắt đại tràng ở người lớn cho những bệnh nhân bị viêm loét đại tràng thể hoạt động đáp ứng không đầy đủ với điều trị thông thường.

Infliximab cũng được chỉ định để làm giảm tỷ lệ can thiệp cắt đại tràng ở bệnh nhân người lớn bị viêm loét đại tràng thể hoạt động mức độ trung bình đến nặng và không đáp ứng điều trị với corticosteroid đường tĩnh mạch.

Viêm khớp dạng thấp:

Infliximab là thuốc giúp kiểm soát và điều trị thấp khớp (DCART); khi kết hợp với methotrexat, Infliximab được chỉ định nhằm: làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng, ngăn ngừa tổn thương cấu trúc của khớp, cải thiện chức năng thực thể và phòng ngừa tàn tật cho các bệnh nhân mắc bệnh viêm khớp dạng thấp thể hoạt động ở mức độ trung bình đến nặng.

Viêm cột sống dính khớp:

Infliximab được chỉ định nhằm: cải thiện các dấu hiệu và triệu chứng, bao gồm phạm vi hoạt động của khớp, cải thiện chức năng thực thể, cải thiện chất lượng cuộc sống cho các bệnh nhân bị viêm cột sống dính khớp thể hoạt động.

Bệnh viêm khớp vẩy nến:

Infliximab được chỉ định nhằm: giảm các dấu hiệu và triệu chứng của viêm khớp thể hoạt động, tạo đáp ứng quan trọng trên lâm sàng trong viêm khớp thể hoạt động, ức chế quá trình hủy hoại cấu trúc của khớp trong viêm khớp thể hoạt động, cải thiện viêm ngón và bệnh lý ở điểm bám tận , cải thiện bệnh vẩy nến, cải thiện chức năng thực thể, cải thiện chất lượng cuộc sống cho những bệnh nhân bị viêm khớp vẩy nến không đáp ứng đầy đủ với việc sử dụng các thuốc chống viêm không steroid hoặc các thuốc làm giảm bệnh khác. Infliximab có thể dùng độc lập hoặc phối hợp với methotrexat.

Bệnh vẩy nến dạng mảng:

Infliximab được chỉ định nhằm: cải thiện tình trạng bệnh vẩy nến, cải thiện chất lượng cuộc sống cho các bệnh nhân mắc bệnh vẩy nến mảng từ trung bình đến nặng cần điều trị toàn thân.

Đối với những bệnh nhân vẩy nến dạng mảng mức độ trung bình, Infliximab nên được sử dụng sau khi dùng quang trị liệu không hiệu quả hay không thích hợp.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Pha mỗi lọ Infliximab với 10mL nước cất pha tiêm. Không được lắc. Dung dịch sau khi pha có bọt là bình thường. Để yên dung dịch hoàn nguyên trong 5 phút. Kiểm tra màu dung dịch có đúng là không màu đến vàng nhạt và trắng sữa. Dung dịch có thể xuất hiện vài phần tử trong mờ, mịn vì infliximab là một protein. Không sử dụng nếu có các phần tử đục, hoặc dung dịch đổi màu hoặc có các thành phần lạ khác.

Pha loãng toàn bộ thể tích dung dịch Infliximab đã hoàn nguyên với dung dịch natri chlorid 0,9% thành 250mL dung dịch truyền tĩnh mạch. Không pha loãng dung dịch Infliximab hoàn nguyên với bất kỳ dung môi nào khác. Có thể thực hiện bằng cách rút ra một thể tích natri chlorid 0,9% tương đương với thể tích của của dung dịch Infliximab đã pha khỏi chai thủy tinh hoặc túi dịch truyền. Bơm từ từ lượng dung dịch Infliximab đã pha vào chai hoặc túi truyền 250mL. Trộn nhẹ nhàng.

Đối với người lớn hoặc trẻ em mắc bệnh Crohn, người lớn mắc bệnh Crohn gây ra lỗ rò, viêm loét đại tràng, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp vẩy nến và bệnh vẩy nến dạng mảng truyền trong khoảng thời gian ít nhất là 2 giờ.

Với bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp, khuyến cáo truyền trong khoảng thời gian ít nhất là 2 giờ ở những bệnh nhân chưa điều trị Infliximab trước đó. Đối với những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp được chọn lọc một cách cẩn thận: bệnh nhân đã dung nạp ít nhất là 3 lần truyền Infliximab đầu tiên trong 2 giờ, có thể cân nhắc truyền tiếp theo trong khoảng thời gian ít nhất là một giờ. Truyền với thời gian rút ngắn với liều trên 6mg/kg chưa được nghiên cứu.

Đối với bệnh nhân là người lớn và trẻ em, dung dịch được truyền trong thời gian ít nhất là 2 giờ.

Đối với những bệnh nhân người lớn được lựa chọn một cách cẩn thận đã dung nạp ít nhất 3 lần truyền Infliximab đầu tiên trong 2 giờ (giai đoạn dẫn nhập) và đang được điều trị duy trì, có thể cân nhắc truyền trong khoảng thời gian ít nhất là 1 giờ. Truyền với thời gian rút ngắn với liều trên 6mg/kg chưa được nghiên cứu.

Chỉ sử dụng bộ dây truyền với một bộ lọc bên trong, vô khuẩn, không có chất gây sốt, gắn kết protein thấp (lỗ có kích thước 1.2 micromet hoặc nhỏ hơn). Không giữ lại bất cứ phần nào còn lại của dung dịch truyền để tái sử dụng.

Chưa có nghiên cứu tính tương thích vật lý – sinh hóa để đánh giá việc đồng thời sử dụng Infliximab với các thuốc khác. Không truyền đồng thời Infliximab với các thuốc khác trong cùng một đường truyền qua đường tĩnh mạch.

Liều dùng:

Đối với thời gian truyền tĩnh mạch được khuyến cáo cho mỗi bệnh nhân theo từng chỉ định trình bày dưới đây (xem mục Hướng dẫn sử dụng).

Bệnh nhân người lớn hay trẻ em mắc bệnh Crohn hoặc người lớn bị bệnh Crohn gây ra lỗ rò: 5 mg/kg truyền tĩnh mạch, tiếp nối với 5 mg/kg truyền tĩnh mạch vào tuần thứ 2 và thứ 6 sau liều điều trị đầu tiên, sau đó lặp lại điều trị mỗi 8 tuần. Đối với những bệnh nhân không đáp ứng hoàn toàn, liều điều trị có thể cân nhắc tăng lên đến 10 mg/kg.

Bệnh nhân trẻ em mắc bệnh Crohn được điều chỉnh liều lớn hơn 5 mg/kg mỗi 8 tuần có nguy cơ gặp phản ứng bất lợi cao hơn. Việc duy trì liệu pháp điều trị với liều điều chỉnh nên được cân nhắc cẩn thận ở những bệnh nhân không có biểu hiện tăng hiệu quả điều trị sau khi điều chỉnh liều.

Bệnh nhân người lớn hay trẻ em mắc bệnh viêm loét đại tràng: 5 mg/kg truyền tĩnh mạch, tiếp nối 5 mg/kg truyền tĩnh mạch vào tuần thứ 2 và thứ 6 sau liều điều trị đầu tiên, sau đó lặp lại điều trị mỗi 8 tuần. Đối với những bệnh nhân ngưới lớn không đáp ứng hoàn toàn hoặc mất đáp ứng, liều điều trị có thể cân nhắc tăng lên đến 10 mg/kg.

Bệnh viêm khớp dạng thấp: 3 mg/kg truyền tĩnh mạch, tiếp nối liều tương tự (3 mg/kg) truyền tĩnh mạch vào tuần thứ 2 và thứ 6 sau liều điều trị đầu tiên, sau đó lặp lại điều trị mỗi 8 tuần, Infliximab cần được dùng phối hợp với methotrexat. Đối với những bệnh nhân không đáp ứng hoàn toàn, liều điều trị có thể cân nhắc tăng lên đến 10 mg/kg và/hoặc điều trị nhắc lại sau mỗi 4 tuần.

Bệnh viêm cột sống dính khớp: 5 mg/kg truyền tĩnh mạch, tiếp nối với 5 mg/kg truyền tĩnh mạch vào tuần thứ 2 và thứ 6 sau liều điều trị đầu tiên, sau đó lặp lại điều trị mỗi 6 tuần.

Viêm khớp vẩy nến: 5 mg/kg truyền tĩnh mạch, tiếp nối với 5 mg/kg truyền tĩnh mạch vào tuần thứ 2 và thứ 6 sau liều điều trị đầu tiên, sau đó lặp lại điều trị mỗi 8 tuần.

Bệnh vẩy nến dạng mảng: 5 mg/kg truyền tĩnh mạch, tiếp nối với 5 mg/kg truyền tĩnh mạch vào tuần thứ 2 và thứ 6 sau liều điều trị đầu tiên, sau đó lặp lại điều trị mỗi 8 tuần.

4.3. Chống chỉ định:

Infliximab không được dùng cho các bệnh nhân có tiền sử quá mẫn cảm với bất cứ thành phần protein của chuột hay các thành phần khác của sản phẩm.

Ở bệnh nhân suy tim mức độ trung bình đến nặng (NYHA độ III/IV), Infliximab khi dùng với liều 10mg/kg có liên quan đến gia tăng tỷ lệ nhập viện và tử vong của bệnh nhân do suy tim tiến triển nặng lên. Vì vậy chống chỉ định liều Infliximab > 5mg/kg cho bệnh nhân suy tim mức độ trung bình đến nặng.

4.4 Thận trọng:

Để tăng cường khả năng phát hiện nguồn gốc của các sinh phẩm y tế, tên thương mại và số lô của sản phẩm sử dụng nên được báo cáo (hoặc ghi) rõ ràng trong bệnh án.

Nhiễm trùng: Vi khuẩn (bao gồm cả nhiễm trùng huyết và viêm phổi), mycobacteria [bao gồm cả bệnh lao (biểu hiện lâm sàng lan tỏa hoặc ngoài phổi)], nấm xâm lấn, virus, và các nhiễm trùng cơ hội đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân được điều trị Infliximab. Một số các bệnh nhiễm trùng này có thể gây tử vong.

Bệnh nhân nên được đánh giá các yếu tố nguy cơ gây bệnh lao (trong đó có tiếp xúc với người có bệnh lao thể hoạt động) và nên được thử nghiệm nhiễm lao tiềm ẩn trước khi điều trị với Infliximab. Các xét nghiệm kiểm tra lao có thể mang lại kết quả âm tính giả, đặc biệt là ở những bệnh nhân bị bệnh nặng hoặc suy giảm miễn dịch.

Điều trị bệnh lao tiềm ẩn nên được bắt đầu trước khi điều trị với Infliximab. Điều trị kháng lao cần được xem xét trước khi bắt đầu điều trị với Infliximab ở bệnh nhân có tiền sử bệnh lao tiềm ẩn hay lao hoạt động nhưng không biết đã được điều trị đầy đủ trước đó hay chưa.

Điều trị kháng lao trước khi bắt đầu điều trị Infliximab cũng nên được xem xét ở những bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ hay có nguy cơ cao nhiễm lao và có xét nghiệm âm tính đối với bệnh lao tiềm ẩn.

Quyết định bắt đầu điều trị kháng lao ở những bệnh nhân này chỉ được thực hiện sau khi tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa lao và phải tính đến các nguy cơ cho bệnh nhân mắc lao tiềm ẩn cũng như những rủi ro của liệu pháp điều trị kháng lao.

Các trường hợp nhiễm lao hoạt động đã xảy ra trên những bệnh nhân điều trị Infliximab trong và sau khi điều trị lao tiềm ẩn. Bệnh nhân điều trị Infliximab nên được theo dõi chặt chẽ các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh lao hoạt động trong và sau khi điều trị, bao gồm cả bệnh nhân đã thử nghiệm âm tính với bệnh lao tiềm ẩn.

Đối với bệnh nhân đã cư trú hoặc đi du lịch đến các vùng lưu hành nấm xâm lấn như histoplasmosis, coccidioidomycosis, hoặc blastomyces, những lợi ích và nguy cơ của điều trị Infliximab nên được xem xét cẩn thận trước khi bắt đầu điều trị Infliximab.

Những bệnh nhân được điều trị với Infliximab, nhiễm nấm xâm lấn như aspergillosis, candida, pneumocystosis, histoplasmosis, coccidioidomycosis hay blastomyces nên được nghi ngờ nếu họ bùng phát bệnh hệ thống nghiêm trọng. Nhiễm nấm xâm lấn có thể biểu hiện bệnh lan tỏa hơn là khu trú, và xét nghiệm kháng nguyên và kháng thể có thể có kết quả âm tính ở một số bệnh nhân bị nhiễm trùng thể hoạt động. Điều trị kháng nấm phù hợp theo kinh nghiệm cần được xem xét trong khi các xét nghiệm chẩn đoán đang được tiến hành. Quyết định điều trị kháng nấm theo kinh nghiệm nên được thực hiện với sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa trong chẩn đoán và điều trị các bệnh nhiễm nấm xâm lấn và nên lưu ý đến cả nguy cơ nhiễm nấm nặng và những nguy cơ của việc điều trị kháng nấm.

Infliximab không nên dùng cho bệnh nhân bị nhiễm trùng thể hoạt động có biểu hiện lâm sàng nặng. Cần thận trọng khi sử dụng Infliximab ở những bệnh nhân mắc bệnh nhiễm trùng mạn tính hoặc có tiền sử nhiễm trùng tái phát. Bệnh nhân cần được tư vấn và tránh tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ gây nhiễm trùng một cách hợp lý.

Suy tim xung huyết: Ở những bệnh nhân suy tim mức độ trung bình đến nặng (NYHA độ III/IV), không thấy tăng tỷ lệ tử vong và nhập viện do suy tim nặng hơn với liều 5mg/kg. Tuy nhiên, không thể loại trừ tác dụng bất lợi có thể gặp khi dùng với liều này hoặc liều thấp hơn hay ở bệnh nhân suy tim mức độ nhẹ (NYHA độ I/II), đặc biệt là khi điều trị lâu dài. Vì vậy, Infliximab chỉ nên được sử dụng hết sức thận trọng ở những bệnh nhân bị suy tim và sau khi xem xét các lựa chọn điều trị khác; liều Infliximab không được vượt quá 5mg/kg.

Nếu quyết định điều trị Infliximab cho bệnh nhân bị suy tim, bệnh nhân nên được theo dõi chặt chẽ trong quá trình điều trị, và không được tiếp tục dùng Infliximab nếu xuất hiện các triệu chứng mới hoặc các triệu chứng suy tim nặng lên.

Các phản ứng liên quan đến tiêm truyền/phản ứng quá mẫn: Để giảm thiểu tỷ lệ phản ứng quá mẫn, bao gồm cả các phản ứng truyền và các phản ứng giống bệnh huyết thanh, Infliximab nên được dùng để điều trị duy trì thường quy sau khi theo chế độ điều trị dẫn nhập ở tuần 0, 2 và 6.

Infliximab có liên quan tới các phản ứng quá mẫn với thời gian khởi phát khác nhau. Các phản ứng quá mẫn bao gồm nổi mày đay, khó thở, và/hoặc co thắt phế quản, phù thanh quản, phù nề họng, và hạ huyết áp, đã được ghi nhận xảy ra trong lúc truyền hay trong vòng 2 giờ truyền Infliximab. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các phản ứng giống bệnh huyết thanh đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân bệnh Crohn từ 1 đến 14 ngày sau khi điều trị Infliximab. Các triệu chứng liên quan đến những phản ứng này bao gồm sốt, phát ban, đau đầu, đau họng, đau cơ, đau nhiều khớp, phù nề bàn tay và mặt, và/hoặc khó nuốt. Nên ngừng sử dụng Infliximab khi gặp các phản ứng phụ nghiêm trọng. Các thuốc để điều trị các phản ứng quá mẫn nên có sẵn để sử dụng ngay trong trường hợp có phản ứng.

Các dữ liệu từ thử nghiệm ATTRACT chỉ ra rằng điều trị dự phòng phản ứng phản vệ (acetaminophen và/hoặc kháng histamin) ở những bệnh nhân có các phản ứng truyền đã giảm sự xuất hiện các phản ứng truyền ở những lần truyền tiếp theo. Việc giảm tốc độ tiêm truyền có thể làm giảm các phản ứng truyền đặc biệt là nếu các phản ứng truyền đã xảy ra trước đó.

Phản ứng truyền sau khi tái điều trị Infliximab: Trong một thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân vẩy nến, một đợt điều trị dẫn nhập với 3 liều Infliximab sau một thời gian ngừng điều trị đã cho thấy tỷ lệ của các phản ứng truyền nghiêm trọng cao hơn trong thời gian tái dẫn nhập so với tỷ lệ được quan sát trong các thử nghiệm trên bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, bệnh vẩy nến và bệnh Crohn được điều trị duy trì ngay mà không tái dẫn nhập sau một thời gian ngừng điều trị.

Trong trường hợp điều trị duy trì Infliximab cho bệnh vẩy nến bị gián đoạn, Infliximab cần được khởi đầu lại đơn liều, sau đó là điều trị duy trì.

Nhìn chung, cần xem xét cẩn thận lợi ích-nguy cơ của việc tái điều trị Infliximab sau một thời gian không điều trị, đặc biệt là phác đồ tái dẫn nhập ở tuần 0, 2, và 6.

Quá trình phản ứng tự miễn: Điều trị với Infliximab có thể dẫn đến sự hình thành của tự kháng thể và phát triển một hội chứng giống bệnh lupus. Ngừng điều trị nếu bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng gợi ý của một hội chứng giống lupus sau điều trị với Infliximab.

Các biến cố thần kinh: Infliximab và các chất ức chế TNFα khác có liên quan đến co giật và khởi phát hay làm tăng nặng thêm các triệu chứng lâm sàng và/hoặc bằng chứng trên X quang của rối loạn mất myelin của hệ thống thần kinh trung ương, bao gồm cả bệnh xơ cứng rải rác và viêm dây thần kinh thị giác, và các rối loạn mất myelin ngoại biên, bao gồm hội chứng Guillain-Barré. Bác sĩ kê đơn nên thận trọng xem xét việc sử dụng Infliximab ở những bệnh nhân có các rối loạn thần kinh và xem xét ngừng Infliximab nếu các rối loạn này phát triển.

Các biến cố gan mật: Các trường hợp vàng da và viêm gan không nhiễm trùng, một số điểm đặc trưng của bệnh viêm gan tự miễn đã được quan sát thấy trong kinh nghiệm điều trị Infliximab hậu mãi. Một số trường hợp riêng biệt suy gan dẫn đến ghép gan hoặc tử vong đã xảy ra. Mối quan hệ nhân quả giữa Infliximab và những biến cố này chưa được thiết lập. Bệnh nhân có các triệu chứng hoặc các dấu hiệu của rối loạn chức năng gan nên được đánh giá bằng chứng về tổn thương gan. Nếu vàng da và/hoặc ALT tăng ≥5 lần giới hạn trên của mức bình thường, nên ngừng dùng Infliximab, và nên thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán toàn diện các bất thường. Cũng như quan sát thấy khi sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch khác, sử dụng các thuốc ức chế TNFα, bao gồm cả Infliximab, liên quan đến sự tái kích hoạt của virus viêm gan B ở những bệnh nhân mắc mạn tính loại virus này (ví dụ như có kháng nguyên bề mặt dương tính). Bệnh nhân nên được xét nghiệm nhiễm virus viêm gan B (HBV) trước khi bắt đầu điều trị với thuốc ức chế miễn dịch, bao gồm cả Infliximab.

Đối với những bệnh nhân có xét nghiệm dương tính với kháng nguyên bề mặt viêm gan B, nên tư vấn bác sĩ chuyên khoa về điều trị bệnh viêm gan B. Người mang bệnh viêm gan B mạn tính nên được đánh giá một cách thích hợp và được theo dõi trước khi bắt đầu, trong khi điều trị, và trong vài tháng sau khi ngừng Infliximab.

Ung thư ác tính:

U lympho: Trong nhóm đối chứng của các thử nghiệm lâm sàng của tất cả các thuốc ức chế TNFα, tỷ lệ các trường hợp u lympho ở những bệnh nhân điều trị thuốc ức chế TNFα cao hơn so với nhóm chứng. Trong các thử nghiệm lâm sàng của Infliximab ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, bệnh Crohn, viêm khớp vẩy nến, viêm cột sống cứng khớp, và viêm loét đại tràng, tỷ lệ mắc u lympho trong nhóm điều trị Infliximab cao hơn tỷ lệ mắc chung trong dân số, tuy nhiên u lympho hiếm xảy ra. Những bệnh nhân bị bệnh Crohn hoặc viêm khớp dạng thấp, đặc biệt là bệnh nhân ở thể hoạt động mạnh và/hoặc điều trị thuốc ức chế miễn dịch kéo dài, có nguy cơ cao hơn (gấp vài lần) so với tỷ lệ mắc chung trong dân số của u lympho, ngay cả trong trường hợp không điều trị thuốc ức chế TNFα.

Ung thư ở trẻ em: Trong các trường hợp u ác tính hậu mãi, một số trong đó tử vong, đã được báo cáo ở trẻ em, thanh thiếu niên và người trẻ tuổi (đến 22 tuổi) đã điều trị các thuốc ức chế TNFα (bắt đầu điều trị khi ≤ 18 tuổi), bao gồm cả Infliximab, để điều trị viêm khớp vị thành niên vô căn (JIA), bệnh Crohn hoặc các bệnh khác. Khoảng một nửa các báo cáo là u lympho. Các trường hợp khác ghi nhận một loạt các khối u ác tính khác nhau có cả các khối u ác tính ít gặp ở trẻ em và thiếu niên. Hầu hết bệnh nhân đều được dùng đồng thời với các thuốc ức chế miễn dịch như methotrexat, azathioprin hoặc 6-mercaptopurin. Vai trò của thuốc ức chế TNFα trong sự phát triển của khối u ác tính ở trẻ em và thanh thiếu niên vẫn còn chưa rõ ràng.

U lympho tế bào T ở gan lách: Sau khi thuốc được lưu hành, một số trường hợp của u lympho tế bào T thể gan lách đã được báo cáo ở những bệnh nhân được điều trị với thuốc ức chế TNFα bao gồm Infliximab. Đây là loại u lympho tế bào T hiếm gặp có diễn tiến nghiêm trọng và thường gây tử vong. Hầu hết các bệnh nhân này đã được điều trị với azathioprin hoặc 6-mercaptopurin đồng thời hoặc ngay trước khi điều trị với một thuốc ức chế TNF. Đa số các trường hợp đã gặp khi điều trị Infliximab xảy ra ở những bệnh nhân bị bệnh Crohn hoặc viêm loét đại tràng và hầu hết là nam thiếu niên hoặc nam thanh niên. Các trường hợp u lympho tế bào T thể gan lách cũng đã xảy ra ở bệnh nhân bị bệnh Crohn và viêm loét đại tràng dùng azathioprin hoặc 6-mercaptopurin mà không điều trị với Infliximab. Trước khi bắt đầu hoặc tiếp tục dùng Infliximab điều trị cho bệnh nhân đang điều trị thuốc ức chế miễn dịch như azathioprin hoặc 6-mercaptopurin, cần đánh giá cẩn thận nhu cầu tiếp tục điều trị ức chế miễn dịch khi thấy được nguy cơ tiềm ẩn của việc điều trị đồng thời. Mối quan hệ nhân quả của u lympho tế bào T thể gan lách và Infliximab vẫn còn chưa rõ ràng.

Bệnh bạch cầu: Các trường hợp bệnh bạch cầu cấp tính và mạn tính đã được báo cáo hậu mãi sau khi sử dụng thuốc ức chế TNF trong viêm khớp dạng thấp và các bệnh khác. Ngay cả trường hợp không điều trị thuốc ức chế TNF, bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp có thể có nguy cơ mắc bệnh bạch cầu cao hơn (khoảng 2 lần) so với tỷ lệ chung của dân số.

Các ung thư không phải u lympho: Trong nhóm đối chứng của một số thử nghiệm lâm sàng của các thuốc ức chế TNF, các trường hợp ung thư không phải u lympho ở những bệnh nhân điều trị thuốc ức chế TNF cao hơn so với bệnh nhân ở nhóm chứng. Tỷ lệ các bệnh ung thư không phải u lympho trong số các bệnh nhân điều trị Infliximab được ghi nhận tương tự tỷ lệ mắc bệnh chung trong dân số mặc dù tỷ lệ gặp ở nhóm chứng lại thấp hơn tỷ lệ mắc bệnh chung trong dân số.

Trong một thử nghiệm lâm sàng thăm dò đánh giá việc sử dụng Infliximab ở những bệnh nhân bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) mức độ trung bình đến nặng, các trường hợp khối u ác tính đã được báo cáo trên bệnh nhân điều trị Infliximab cao hơn so với nhóm chứng. Tất cả bệnh nhân nghiên cứu có tiền sử nghiện thuốc lá nặng.

Ung thư da: U hắc sắc tố và carcinoma tế bào Merkel đã được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị bằng thuốc chẹn TNF, bao gồm Infliximab (xem mục “Tác dụng ngoại ý”). Khuyến cáo nên khám da định kỳ đối với tất cả bệnh nhân, đặc biệt những người có yếu tố nguy cơ ung thư da.

Ung thư cổ tử cung: Một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu dựa trên dân số sử dụng dữ liệu từ các cơ quan y tế quốc gia Thụy Điển đã cho thấy tần suất ung thư cổ tử cung gia tăng ở phụ nữ bị viêm khớp dạng thấp được điều trị infliximab so với bệnh nhân chưa điều trị bằng chế phẩm sinh học hoặc so với dân số chung, bao gồm những người trên 60 tuổi. Không thể loại trừ mối quan hệ nhân quả giữa infliximab và ung thư cổ tử cung. Nên tiếp tục sàng lọc định kỳ ở phụ nữ điều trị với Infliximab, bao gồm những người trên 60 tuổi.

Cơ chế liên quan của các thuốc ức chế TNF trong sự phát triển của khối u ác tính chưa rõ. Cần thận trọng khi xem xét điều trị ức chế TNF cho bệnh nhân có tiền sử bệnh ác tính hoặc khi xem xét tiếp tục điều trị ở những bệnh nhân bị bệnh ác tính.

Sử dụng đồng thời chất ức chế TNFα và anakinra: Đã gặp nhiễm trùng nghiêm trọng và giảm bạch cầu trung tính trong các nghiên cứu lâm sàng có sử dụng đồng thời anakinra và một thuốc ức chế TNFα khác, etanercept, không có cải thiện lâm sàng nhiều hơn so với đơn trị liệu etanercept. Do đã gặp các biến cố bất lợi khi kết hợp điều trị etanercept và anakinra, độc tính tương tự cũng có thể xảy ra khi phối hợp của anakinra và các thuốc ức chế TNFα khác. Vì vậy, không khuyến cáo phối hợp Infliximab và anakinra.

Sử dụng đồng thời Infliximab và abatacept: Trong các nghiên cứu lâm sàng, sử dụng đồng thời đồng thời các thuốc ức chế TNF và abatacept gây tăng nguy cơ nhiễm trùng bao gồm nhiễm trùng nghiêm trọng so với khi đơn trị liệu các thuốc ức chế TNF, mà không tăng hiệu quả lâm sàng. Do đã gặp các biến cố bất lợi khi kết hợp điều trị TNFα và abatacept, vì vậy không khuyến cáo dùng phối hợp Infliximab và abatacept.

Sử dụng đồng thời với các liệu pháp sinh học khác: Không có đủ thông tin về việc sử dụng đồng thời Infliximab với các liệu pháp sinh học khác để điều trị các trường hợp bệnh lý giống như Infliximab. Việc sử dụng đồng thời Infliximab với những sinh phẩm này không được khuyến cáo do tăng nguy cơ bị nhiễm khuẩn.

Chuyển đổi giữa các liệu pháp sinh học: Khi chuyển đổi từ một thuốc sinh học này sang một thuốc sinh học khác, bệnh nhân cần tiếp tục được theo dõi, vì hoạt tính sinh học chồng chéo có thể làm tăng thêm nguy cơ nhiễm khuẩn.

Các phản ứng huyết học: Đã có báo cáo giảm toàn thể huyết cầu, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính, và giảm tiểu cầu ở những bệnh nhân dùng thuốc ức chế TNF, bao gồm cả Infliximab. Cần thận trọng ở những bệnh nhân được điều trị với Infliximab mà đang có hoặc tiền sử giảm đáng kể các dòng tế bào máu.

Các vaccin sống/Các tác nhân làm lây nhiễm trong điều trị: Ở những bệnh nhân đang điều trị ức chế TNF, dữ liệu hiện có còn hạn chế về đáp ứng khi tiêm chủng vaccin sống hoặc nhiễm trùng thứ phát do sử dụng vaccin sống.

Sử dụng vaccin sống có thể gây ra nhiễm trùng lâm sàng, kể cả các nhiễm trùng lan tỏa. Khuyến cáo không nên dùng vaccin sống đồng thời với Infliximab.

Tử vong do nhiễm Bacille Calmette-Guérin (BCG) lan tỏa đã được báo cáo ở trẻ dùng vaccin BCG sau khi đã phơi nhiễm với infliximab khi còn trong bào thai. Phải đợi ít nhất 6 tháng sau khi sinh mới được sử dụng các vaccin sống cho trẻ đã phơi nhiễm với infliximab khi còn trong bào thai.

Việc sử dụng các tác nhân lây nhiễm điều trị khác như vi khuẩn sống giảm hoạt lực (ví dụ truyền nhỏ giọt BCG vào bàng quang để điều trị ung thư) có thể gây ra nhiễm khuẩn trên lâm sàng, bao gồm các nhiễm khuẩn lan tỏa. Khuyến cáo không nên sử dụng đồng thời các tác nhân lây nhiễm điều trị với Infliximab.

Các vaccin bất hoạt: Trong một phân nhóm bệnh nhân thuộc nghiên cứu ASPIRE, một tỷ lệ tương tự bệnh nhân trong mỗi nhóm điều trị tăng gấp hai lần hiệu giá của vaccin phế cầu khuẩn đa giá, chỉ ra rằng Infliximab đã không ảnh hưởng đến tế bào T khi tạo miễn dịch dịch thể.

Các bệnh nhân nhi khoa được khuyến cáo, nếu có thể, nên được tiêm chủng với tất cả các loại vaccin theo phác đồ trước khi bắt đầu điều trị Infliximab.

Sử dụng trong nhi khoa: Infliximab được chỉ định để giảm các dấu hiệu và triệu chứng và để thúc đẩy và duy trì sự thuyên giảm bệnh trên lâm sàng ở những trẻ em mắc bệnh Crohn thể hoạt động mức độ trung bình đến nặng. Tất cả những bệnh nhân nhi này trong thử nghiệm lâm sàng pha 3 (REACH) đang được điều trị ở liều ổn định bằng một trong các thuốc 6-mercaptopurin, azathioprin, hoặc methotrexat.

Infliximab được chỉ định để làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng và để thúc đẩy và duy trì sự thuyên giảm bệnh trên lâm sàng và sự phục hồi niêm mạc hoặc giảm liều hoặc ngừng sử dụng corticosteroid ở bệnh nhi bị bệnh viêm loét đại tràng, đặc biệt là những bệnh nhân không đáp ứng đủ với điều trị thông thường.

Infliximab không được nghiên cứu ở trẻ em với bệnh viêm khớp vị thành niên vô căn (JRA) dưới 4 tuổi hoặc trẻ em mắc bệnh viêm loét đại tràng hoặc Crohn dưới 6 tuổi.

Chưa chứng minh tính an toàn và hiệu quả của Infliximab ở những bệnh nhân nhi với viêm khớp dạng thấp vị thành niên, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp vẩy nến và bệnh vẩy nến dạng mảng.

Dược động học của Infliximab đã được đánh giá ở những bệnh nhân trẻ em mắc bệnh Crohn và viêm loét đại tràng.

Sử dụng trong lão khoa: Chưa thực hiện những nghiên cứu chuyên biệt của Infliximab trên bệnh nhân cao tuổi. Không có sự khác biệt lớn trong nghiên cứu lâm sàng về độ thanh thải hay thể tích phân bố của thuốc liên quan đến tuổi tác. Tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng nghiêm trọng khi điều trị Infliximab ở bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên lớn hơn ở những người dưới 65 tuổi. Hơn nữa, tỷ lệ bị nhiễm trùng trong dân số người cao tuổi nói chung là lớn hơn, do đó nên thận trọng khi sử dụng cho người cao tuổi.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Ảnh hưởng trên khả năng lái xe và vận hành máy móc: Chưa được chứng minh.

Cần thận trọng khi sử dụng cho các đối tượng lái xe và vận hành máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: C

US FDA pregnancy category: B

Thời kỳ mang thai:

Bởi vì Infliximab không có phản ứng chéo với thuốc ức chế TNFα của các loài khác con người và tinh tinh, nghiên cứu sinh sản trên động vật chưa được thực hiện với Infliximab. Không thấy bằng chứng về độc tính cho mẹ, cho phôi hay gây quái thai trong một nghiên cứu về độc tính tiến triển được tiến hành ở chuột khi sử dụng một kháng thể tương tự có ức chế chọn lọc hoạt động chức năng TNFα của chuột. Liều dùng từ 10 đến 15mg/kg trong các mô hình dược lực học trên động vật với các kháng thể kháng TNFα được sản xuất với hiệu quả dược lý tối đa. Liều dùng lên đến 40mg/kg không cho thấy tác dụng bất lợi trong các nghiên cứu ảnh hưởng lên khả năng sinh sản của động vật. Chưa rõ liệu Infliximab có thể gây nguy hại cho thai khi dùng cho phụ nữ mang thai hoặc có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản hay không. Vì thế, Infliximab chỉ nên được dùng cho phụ nữ mang thai và cho con bú khi thật sự cần thiết.

Giống như các kháng thể IgG khác, infliximab đi qua nhau thai và đã được phát hiện trong huyết thanh của trẻ sơ sinh cho đến 6 tháng tuổi.

Sau khi phơi nhiễm với infliximab khi còn trong bào thai, những trẻ này có thể tăng nguy cơ nhiễm trùng, vaccin kể cả những nhiễm trùng lan tỏa dẫn đến tử vong.

Thời kỳ cho con bú:

Chưa rõ liệu Infliximab có được bài tiết qua sữa mẹ hoặc có được hấp thu toàn thân sau khi bú mẹ hay không. Bởi vì nhiều loại thuốc và globulin miễn dịch được bài tiết vào sữa mẹ, và do nguy cơ phản ứng bất lợi cho trẻ bú mẹ khi mẹ điều trị bằng Infliximab, nên cân nhắc tầm quan trọng của thuốc đối với mẹ khi quyết định ngừng cho con bú hoặc ngừng sử dụng thuốc.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Dữ liệu an toàn từ các thử nghiệm lâm sàng thu được từ 5561 bệnh nhân điều trị Infliximab, trong đó có 1304 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, 117 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp vị thành niên, 1566 bệnh nhân Crohn (1427 người lớn và 139 trẻ em), 347 viêm cột sống dính khớp, 293 viêm khớp vẩy nến, 1373 bệnh vẩy nến dạng mảng, 544 với viêm loét đại tràng (484 người lớn và 60 trẻ em) và 17 bệnh nhân mắc các bệnh khác. Phản ứng bất lợi trong các thử nghiệm lâm sàng được tóm tắt trong Bảng 1. Các phản ứng liên quan đến truyền (như khó thở, đỏ bừng mặt, đau đầu và phát ban) nằm trong số những nguyên nhân phổ biến nhất phải ngừng điều trị thuốc, ngoại trừ viêm loét đại tràng, bệnh Crohn ở trẻ em và viêm khớp vẩy nến.

Tóm tắt các phàn ứng bất lọi của thuốc gặp trong các thử nghiệm lâm sàng
Da và phần phụ Phát ban. ngứa, nối mày day. tăng tiết mò hôi. khô da. viêm da do nấm/nầm móng. chàm;tăng tiét bã nhờn, rụng tóc
Hệ thẩn kinh trung ương và ngoại biên Đau dầu, chóng mặt/choảng váng
Hệ thống tiéu hóa Buồn nôn, tiêu chảy, đau bụng, khỏ tièu. hẹp ruột. nôn. táo bón
Hệ hô hấp Nhiẻm trúng đường hô hấp trôn, nhiểm trúng đường hõ hấp dưới (bao gồm cá viêm phối), khó thớ. viêm xoang, viỗm màng phối, phù phổi
Toàn thân Mệt mỏi. đau ngực. phù. nóng bứng mặt, dau. ỡn lạnh/rét run
Cơ chế đề kháng Nhiễm virus, sốt, áp xe, viêm mỏ tế bảo, bệnh monilia (candida). phản ứng giống sarcoid
Hệ Cơ – Xương – Khớp Đau cơ. đau khớp
Mach máu (ngoài tim) Cơn bôc hỏa. huyểt khối tĩnh mach. bấm máu/khổi tụ máu
Hệ tim mạch Tăng huyết áp. hạ huyểt áp
Máu Thiếu máu. giám bạch cầu, bệnh lý hạch lympho. Giảm bạch cầu trung tinh, giảm tiếu cầu
Tâm thần Mắt ngủ. Ngủ gã
Hệ gan mật Tăng men gan. bắt thường chức năng gan
Hệ tiểt niêu Nhiễm khuân đường tiết niệu
Mất và thị giác Viêm kết mạc
Nhíp tim Đánh trống ngực, nhịp tim chậm
Vị tri tiêm truyền Phản ứng tại chỗ tiêm truyền
Hệ collagen Sản xuất tự kháng thể
Khối u lành tinh và ác tính u lympho

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Nghiên cứu tương tác thuốc chuyên biệt chưa được thực hiện với Infliximab.

Sử dụng đồng thời Infliximab với các liệu pháp sinh học khác: Không khuyến cáo kết hợp Infliximab với các liệu pháp sinh học khác đã được dùng để điều trị bệnh giống như Infliximab, bao gồm anakinra và abatacept (xem mục Cảnh báo).

Các vắc-xin sống/Các tác nhân làm lây nhiễm trong điều trị: Khuyến cáo không nên sử dụng đồng thời các vaccin sống với Infliximab (xem mục “Cảnh báo”). Ít nhất 6 tháng sau khi sinh không được sử dụng các vaccin sống cho trẻ đã phơi nhiễm với infliximab khi còn trong bào thai.

Khuyến cáo không nên sử dụng đồng thời các tác nhân làm lây nhiễm trong điều trị với Infliximab (xem mục “Cảnh báo”).

4.9 Quá liều và xử trí:

Liều đơn đã dùng tới 20mg/kg chưa ghi nhận các tác dụng gây độc.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Đánh giá mô học của mẫu sinh thiết đại tràng trước và 4 tuần sau khi điều trị với Infliximab đã ghi nhận giảm đáng kể lượng TNFα có thể phát hiện được. Dùng Infliximab trong điều trị bệnh Crohn cũng làm giảm đáng kể nồng độ protein C phản ứng (CRP) là một chất đánh dấu của hiện tượng viêm thường tăng cao trong huyết thanh. Toàn bộ số lượng bạch cầu ngoại vi bị ảnh hưởng không đáng kể ở bệnh nhân dùng Infliximab mặc dù những thay đổi ở lympho bào, đơn bào và bạch cầu trung tính đã phản ánh việc lệch hướng so với giới hạn bình thường. So với bệnh nhân không dùng thuốc, bệnh nhân dùng Infliximab không giảm đáp ứng tăng sinh tế bào đơn nhân trong máu ngoại vi đối với các yếu tố kích thích và không có những thay đổi đáng kể trong việc sản xuất cytokine bởi tế bào đơn nhân trong máu ngoại vi bị kích thích. Phân tích tế bào đơn nhân ở lớp mô liên kết nằm dưới biểu mô (lamina propria) của mẫu sinh thiết niêm mạc ruột đã cho thấy dùng Infliximab làm giảm lượng tế bào có khả năng giải phóng TNFα và interferon γ. Những nghiên cứu mô học bổ sung khác đã cung cấp bằng chứng rằng điều trị với Infliximab làm giảm sự thâm nhiễm các tế bào viêm vào những nơi viêm nhiễm ở ruột và sự hiện diện của các chất đánh dấu viêm tại các vùng này.

Nồng độ TNFα tăng cao tại các khớp của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp và tương quan với tiến triển bệnh. Tăng nồng độ TNFα cũng được tìm thấy tại dịch/mô khớp và tại tổn thương da ở bệnh nhân viêm khớp vẩy nến. Trong viêm khớp dạng thấp, điều trị với Infliximab làm giảm thâm nhiễm các tế bào viêm vào các vùng bị viêm của khớp, cũng như làm giảm biểu lộ các phân tử gây kết dính tế bào, giảm hóa hướng động và thoái hóa mô. Sau khi dùng Infliximab, so với trước khi điều trị, bệnh nhân có biểu hiện giảm nồng độ interleukin 6 (IL-6) và CRP trong huyết thanh. Hơn nữa, bạch cầu trong máu ngoại vi không giảm đáng kể về số lượng hoặc về đáp ứng tăng sinh đối với sự kích thích tạo phân bào in vitro khi so với tế bào của bệnh nhân không dùng thuốc này. Ở bệnh nhân bị bệnh vẩy nến, điều trị với infliximab làm giảm tình trạng viêm ở biểu bì và sự bình thường hóa quá trình biệt hóa của các tế bào sừng tại các mảng vẩy nến.

Cơ chế tác dụng:

Infliximab ức chế hoạt động chức năng của TNF-α trong hàng loạt các test sinh học in vitro. Infliximab ngăn ngừa bệnh trên chuột biến đổi gen mắc viêm đa khớp như là hậu quả của sự thể hiện có tính chất cấu trúc của TNF-α người và được chỉ định sau khi khởi phát bệnh, cho phép các khớp bị bào mòn lành lại. Trên nghiên cứu in vivo, infliximab nhanh chóng tạo thành phức hợp ổn định với TNF-α của người, song song với quá trình mất hoạt tính sinh học của TNF-α.

Nồng độ các TNF-α tăng lên ở các khớp của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp và có liên quan tới việc tăng tiến triển bệnh. Trong bệnh lý viêm khớp dạng thấp, điều trị với infliximab làm giảm xâm lấn các tế bào viêm vào các vùng bị viêm trong khớp cũng như sự biểu lộ hoạt động chức năng của các phân tử trung gian cho bám dính tế bào, hóa ứng động và giáng hóa mô. Sau khi điều trị với infliximab, nồng độ interleukin-6 (IL-6) và CRP trong huyết thanh của bệnh nhân giảm so với giá trị ban đầu. Hơn nữa các bạch cầu lympho trong máu ngoại vi không thấy có sự giảm có ý nghĩa về số lượng hoặc đáp ứng tăng trưởng đối với sự kích thích phân bào in vitro khi so sánh với các tế bào từ bệnh nhân không điều trị.

Trên bệnh nhân vảy nến, điều trị với infliximab dẫn tới giảm viêm biểu mô và bình thường hóa sự biệt hóa các tế bào sừng ở các mảng vảy nến.

Trên bệnh nhân viêm khớp vảy nến, điều trị với infliximab trong thời gian ngắn có thể giúp giảm số lượng các tế bào T và các mạch máu các hoạt dịch và vảy nến trên da.

Đánh giá mô học sinh thiết ở ruột thu được trước và 4 tuần sau khi truyền infliximab, cho thấy giảm đáng kể hàm lượng TNF-α phát hiện được. Điều trị infliximab cho bệnh nhân bệnh Crohn cũng có liên quan với giảm đáng kể đến nồng độ các chất đánh dấu viêm trong huyết thanh, CRP. Tổng số lượng tế bào bạch cầu ngoại vi gây ảnh hưởng tối thiểu ở những bệnh nhân được điều trị bằng infliximab, mặc dù có những thay đổi trong tế bào lympho, bạch cầu đơn nhân và bạch cầu trung tính phản ánh những thay đổi so với phạm vi bình thường. Tế bào đơn nhân của máu ngoại vi (PBMC) từ các bệnh nhân được điều trị bằng infliximab cho thấy không hề suy giảm đáp ứng với các kích thích tăng sinh so với bệnh nhân không được điều trị, và không quan sát thấy sự thay đổi đáng kể trong sản xuất cytokine bởi PBMC kích thích sau khi điều trị với infliximab. Phân tích của phiến lá tế bào đơn nhân thu được bằng cách sinh thiết niêm mạc ruột cho thấy điều trị infliximab làm giảm số lượng tế bào có khả năng tác động lên TNF-α và interferon γ. Nghiên cứu mô học bổ sung được cung cấp bằng chứng cho thấy điều trị bằng infliximab làm giảm sự xâm nhập của các tế bào viêm vào các khu vực bị ảnh hưởng của ruột và sự hiện diện của các dấu hiệu viêm nhiễm tại các vị trí này. Nghiên cứu nội soi niêm mạc ruột đã cho thấy bằng chứng về lành niêm mạc ở những bệnh nhân được điều trị bằng infliximab.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Truyền tĩnh mạch Infliximab đơn liều 1, 3, 5, 10 hoặc 20mg/kg làm tăng nồng độ tối đa trong huyết thanh (Cmax) và diện tích dưới đường cong biểu diễn nồng độ theo thời gian (AUC) tương ứng với liều dùng. Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định (trung vị của Vd là 3-4,1lít) không phụ thuộc vào liều dùng và cho thấy Infliximab được phân bố chủ yếu trong mạch máu. Theo quan sát, các đặc tính dược động học không phụ thuộc vào thời gian. Chưa mô tả được những con đường đào thải Infliximab. Không có khác biệt quan trọng về độ thanh thải hoặc thể tích phân bố ở các phân nhóm bệnh nhân tính theo tuổi, thể trọng hoặc chức năng thận hoặc chức năng gan. Cũng không ghi nhận bất kỳ khác biệt đáng kể về những thông số dược động học đơn liều giữa bệnh nhân trẻ em và người lớn bị bệnh Crohn.

Với các liều đơn 3, 5, và 10mg/kg, trung vị các giá trị dược động học đối với Cmax tương ứng là 77, 118 và 277mcg/mL. Trung vị thời gian bán thải cuối cùng tại những liều này là từ 8 đến 9,5 ngày. Ở hầu hết các bệnh nhân, có thể phát hiện infliximab trong huyết thanh ít nhất trong 8 tuần sau khi truyền một liều đơn.

Với phác đồ dùng 3 liều, có sự tích lũy nhẹ infliximab trong huyết thanh sau khi dùng liều thứ hai và sau đó không có thêm sự tích lũy liên quan đến lâm sàng. Trong đa số bệnh nhân bị bệnh Crohn gây ra lỗ rò, đã xác định infliximab trong huyết thanh tại tuần thứ 12 (từ 4-28 tuần) sau khi dùng thuốc.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Sucrose ,Polysorbate 80, Monobasic sodium phosphate, Dibasic sodium phosphate

6.2. Tương kỵ :

Nghiên cứu về tương tác thuốc đặc biệt chưa được thực hiện.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản ở 2oC-8oC.

Có thể bảo quản Infliximab tại nhiệt độ tối đa 30oC trong một khoảng thời gian 6 tháng nhưng không vượt quá ngày hết hạn đã ghi trên bao bì gốc của sản phẩm. Nên ghi ngày hết hạn mới (kể từ ngày bảo quản tại 30oC) lên hộp thuốc để theo dõi. Một khi đã bảo quản Infliximab bên ngoài tủ lạnh thì không thể bảo quản lạnh lại được nữa.

Khi Infliximab được pha truyền, khuyến cáo nên sử dụng thuốc càng sớm càng tốt (trong vòng 3 giờ). Tuy nhiên, nếu dung dịch được pha trong điều kiện vô trùng thì thuốc có thể được bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ từ 2oC đến 8oC trong 24 giờ.

6.4. Thông tin khác :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.