Golimumab

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Golimumab

Phân loại: Thuốc ức chế miễn dịch, ức chế yếu tố gây hoại tử u alpha (TNF-α)

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L04AB06.

Brand name: Simponi.

Generic : Golimumab

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Golimumab – *Kháng thể đơn dòng IgG1қ, có nguồn gốc từ người được sản xuất trên dòng tế bào hybridoma của chuột bằng công nghệ DNA tái tổ hợp.

Bút tiêm định liều sẵn có chứa 50 mg dung dịch tiêm.

Thuốc tham khảo:

SIMPONI 50 mg
Mỗi 0,5mL có chứa:
Golimumab …………………………. 50 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Viêm khớp dạng thấp (RA)

Golimumab, kết hợp với methotrexat (MTX) được chỉ định trong:

• Điều trị viêm khớp dạng thấp thể hoạt động, mức độ trung bình đến nặng ở người lớn khi không đáp ứng đầy đủ với thuốc chống thấp khớp cải thiện bệnh (DMARD) bao gồm MTX

• Điều trị viêm khớp dạng thấp thể hoạt động, nặng và đang tiến triển ở người lớn chưa được điều trị với MTX trước đây.

Trị liệu Golimumab kết hợp với MTX đã được chứng minh làm giảm tiến triển tổn thương khớp qua đánh giá hình ảnh X quang và làm cải thiện hoạt động thể chất.

Viêm khớp vẩy nến (PsA): Golimumab dùng đơn độc hoặc kết hợp với MTX được chỉ định trong điều trị viêm khớp vẩy nến thể hoạt động và tiến triển ở bệnh nhân người lớn không có đáp ứng đầy đủ với trị liệu DMARD trước đó. Golimumab được chứng minh làm giảm tiến triển tổn thương khớp ngoại biên qua đánh giá hình ảnh X quang ở bệnh nhân có thể bệnh viêm đa khớp đối xứng (xem phần Đặc tính dược lực học) và làm cải thiện hoạt động thể chất.

Viêm cột sống khớp trục

Viêm cột sống dính khớp (AS): Golimumab được chỉ định điều trị viêm cột sống dính khớp thể hoạt động, nặng ở người lớn không có đáp ứng đầy đủ với trị liệu thông thường.

Viêm cột sống khớp trục không có hình ảnh tổn thương trên X quang (nr-Axial SpA): Golimumab được chỉ định điều trị viêm cột sống khớp trục thể hoạt động, nặng nhưng không có hình ảnh tổn thương trên X quang ở bệnh nhân người lớn có các dấu hiệu khách quan về phản ứng viêm được biểu hiện bởi tăng nồng độ protein phản ứng -C (CRP) và/hoặc bằng chứng hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) mà các bệnh nhân này không có đáp ứng đầy đủ hoặc không dung nạp được các thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs).

Viêm loét đại tràng (UC): Golimumab được chỉ định điều trị viêm loét đại tràng thể hoạt động, mức độ trung bình đến nặng ở bệnh nhân người lớn không có đáp ứng đầy đủ với trị liệu thông thường bao gồm các corticosteroid và 6-mercaptopurin (6-MP) hoặc azathioprin (AZA), hoặc bệnh nhân không dung nạp thuốc hoặc có các chống chỉ định y khoa dùng các trị liệu như vậy.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Golimumab được dùng dưới da. Sau khi được huấn luyện đúng cách kỹ thuật tiêm dưới da, bệnh nhân có thể tự tiêm Golimumab nếu bác sĩ thấy phù hợp và có sự giám sát y tế khi cần thiết. Nên hướng dẫn bệnh nhân tiêm toàn bộ lượng thuốc Golimumab theo hướng dẫn chi tiết về cách dùng thuốc được nêu trong tờ hướng dẫn sử dụng. Nếu cần tiêm nhiều lần, nên tiêm thuốc ở các vị trí khác nhau trên cơ thể.

Liều dùng:

Viêm khớp dạng thấp

Tiêm 50 mg Golimumab, một lần/tháng, cùng một ngày cho mỗi tháng.

Nên dùng Golimumab đồng thời với MTX.

Viêm khớp vẩy nến, viêm cột sống dính khớp, hoặc viêm cột sống khớp trục không có hình ảnh tổn thương trên X quang

Tiêm 50 mg Golimumab một lần/tháng, cùng một ngày cho mỗi tháng.

Đối với tất cả các chỉ định điều trị trên, dữ liệu hiện có cho thấy đáp ứng lâm sàng thường đạt được trong vòng 12 đến 14 tuần điều trị (sau 3-4 liều). Nên xem xét lại việc tiếp tục điều trị ở những bệnh nhân không có bằng chứng về lợi ích điều trị trong khoảng thời gian này.

Bệnh nhân có thể trọng hơn 100kg: Đối với tất cả các chỉ định điều trị trên, khi những bệnh nhân bị RA, PsA, AS, hoặc nr-Axial SpA với thể trọng hơn 100kg không đạt đáp ứng lâm sàng đầy đủ sau 3 hoặc 4 liều dùng, có thể xem xét tăng liều golimumab đến 100 mg một lần mỗi tháng, nhưng phải tính đến tăng nguy cơ xảy ra một số phản ứng có hại nghiêm trọng của thuốc với liều dùng 100 mg so với liều 50 mg. Nên cân nhắc lại việc tiếp tục điều trị ở những bệnh nhân không có bằng chứng về lợi ích điều trị sau khi nhận bổ sung 3 đến 4 liều 100 mg.

Viêm loét đại tràng

Bệnh nhân có thể trọng dưới 80kg: Liều khởi đầu Golimumab là 200 mg, sau đó là 100 mg vào tuần 2, rồi 50 mg mỗi 4 tuần.

Bệnh nhân có thể trọng lớn hơn hoặc bằng 80kg: Liều khởi đầu Golimumab là 200 mg, sau đó là 100 mg vào tuần 2, rồi 100 mg mỗi 4 tuần sau đó.

Trong thời gian điều trị duy trì, có thể giảm dần liều các corticosteroid theo các hướng dẫn thực hành lâm sàng.

Dữ liệu hiện có cho thấy đáp ứng lâm sàng thường đạt được trong vòng 12 đến 14 tuần điều trị (sau 4 liều). Nên xem xét lại việc điều trị tiếp tục ở những bệnh nhân không có bằng chứng về lợi ích điều trị trong khoảng thời gian này.

Bỏ sót liều

Nếu bệnh nhân quên tiêm Golimumab vào ngày dự kiến, nên tiêm liều thuốc đã quên ngay sau khi nhớ lại. Phải hướng dẫn bệnh nhân không được tiêm liều gấp đôi để bù cho liều thuốc đã quên.

Nên tiêm liều tiếp theo dựa trên hướng dẫn sau đây:

Nếu trễ chưa đến 2 tuần, bệnh nhân nên tiêm liều đã quên và tiếp tục dùng lịch tiêm ban đầu.

Nếu trễ hơn 2 tuần, bệnh nhân nên tiêm liều đã quên và lập một lịch tiêm mới tính từ ngày tiêm liều thuốc bỏ sót này.

Đối tượng đặc biệt

Người cao tuổi (≥65 tuổi): Không cần chỉnh liều ở người cao tuổi.

Suy thận và suy gan: Chưa nghiên cứu sử dụng Golimumab ở các quần thể bệnh nhân này. Không thể đưa ra liều khuyến cáo sử dụng.

Trẻ em: Chưa xác lập tính an toàn và hiệu quả của Golimumab ở bệnh nhân dưới 18 tuổi. Không có sẵn dữ liệu ở quần thể này.

4.3. Chống chỉ định:

Quá mẫn với hoạt chất hoặc bất cứ thành phần nào của thuốc.

Bệnh lao (TB) thể hoạt động hoặc các bệnh nhiễm khuẩn nặng khác như nhiễm khuẩn huyết, và nhiễm khuẩn cơ hội.

Suy tim vừa hoặc nặng (phân loại NYHA III/IV).

4.4 Thận trọng:

Nhiễm khuẩn

Bệnh nhân phải được theo dõi chặt chẽ các bệnh nhiễm khuẩn bao gồm bệnh lao trước khi, trong khi và sau khi điều trị với Golimumab. Vì việc thải trừ golimumab có thể kéo dài đến 5 tháng, cần tiếp tục giám sát bệnh nhân trong suốt thời kỳ này. Không được tiếp tục điều trị với Golimumab nếu bệnh nhân phát triển một bệnh nhiễm khuẩn nghiêm trọng hoặc nhiễm khuẩn huyết.

Không nên dùng Golimumab cho bệnh nhân đang bị bệnh nhiễm khuẩn thể hoạt động, nghiêm trọng trên lâm sàng. Cần thận trọng khi xem xét dùng Golimumab ở bệnh nhân có bệnh nhiễm khuẩn mạn tính hoặc có tiền sử nhiễm khuẩn tái phát. Bệnh nhân cần được tư vấn thích hợp, và tránh phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ tiềm năng gây nhiễm khuẩn.

Bệnh nhân đang dùng các thuốc ức chế TNF (yếu tố hoại tử u alpha) thường dễ nhiễm các bệnh nhiễm khuẩn nghiêm trọng.

Đã có các báo cáo về các bệnh nhiễm khuẩn (bao gồm nhiễm khuẩn huyết và viêm phổi), nhiễm khuẩn Mycobacterium (bao gồm bệnh lao), nhiễm nấm xâm lấn và nhiễm khuẩn cơ hội, thậm chí gây tử vong xảy ra ở các bệnh nhân dùng Golimumab. Một số các bệnh nhiễm khuẩn nghiêm trọng này đã xảy ra ở bệnh nhân đang đồng thời dùng thuốc ức chế miễn dịch, cùng với tình trạng bệnh lý có sẵn nên dễ có khả năng mắc bệnh nhiễm khuẩn. Cần theo dõi chặt chẽ và tiến hành đánh giá chẩn đoán đầy đủ khi xuất hiện bệnh nhiễm khuẩn mới ở những bệnh nhân đang điều trị với Golimumab. Nên ngừng trị liệu Golimumab nếu một bệnh nhân phát triển một bệnh nhiễm khuẩn mới nghiêm trọng hoặc bị nhiễm khuẩn huyết, và nên bắt dầu dùng liệu pháp kháng khuẩn hoặc kháng nấm thích hợp cho đến khi kiểm soát được bệnh nhiễm khuẩn này.

Đối với bệnh nhân đang cư trú hoặc đi du lịch đến các vùng có các dịch bệnh nhiễm nấm xâm lấn như bệnh nấm histoplasma, bệnh nấm coccidioides, hoặc bệnh nấm blastomyces, cần phải cân nhắc lợi ích và nguy cơ trước khi bắt đầu điều trị với Golimumab. Ở những bệnh nhân có nguy cơ cao khi điều trị với Golimumab, nên nghĩ đến nhiễm nấm xâm lấn khi bệnh nhân phát triển một bệnh toàn thân nghiêm trọng. Khi tiến hành chẩn đoán và sử dụng trị liệu kháng nấm theo kinh nghiệm ở các bệnh nhân này, nếu có thể, nên tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa về chăm sóc bệnh nhân nhiễm nấm xâm lấn.

Bệnh lao

Đã có các báo cáo về bệnh lao xảy ra ở bệnh nhân đang dùng Golimumab. Cần lưu ý rằng trong đa số các báo cáo, bệnh lao xảy ra ngoài phổi, biểu hiện ở dạng bệnh tại chỗ hoặc lan tỏa.

Trước khi bắt đầu điều trị với Golimumab, tất cả các bệnh nhân phải được đánh giá về bệnh lao cho cả hai thể hoạt động và không hoạt động (‘tiềm ẩn’). Việc đánh giá này sẽ bao gồm tiền sử chi tiết với tiền sử mắc bệnh lao của cá nhân hoặc có thể tiếp xúc trước đây với người mắc bệnh lao và liệu pháp ức chế miễn dịch đã dùng trước đây và/hoặc hiện tại. Nên thực hiện các xét nghiệm tầm soát thích hợp, tức là phản ứng lao tố ở da hoặc xét nghiệm máu và chụp X quang cho tất cả các bệnh nhân (có thể áp dụng các khuyến cáo của địa phương). Đề nghị nên ghi chép việc tiến hành các xét nghiệm này vào thẻ cảnh báo của bệnh nhân. Bác sĩ điều trị nên lưu ý đến nguy cơ phản ứng lao tố có kết quả âm tính giả, đặc biệt ở những bệnh nhân bị ốm nặng hoặc bị suy giảm miễn dịch.

Nếu có chẩn đoán bệnh lao thể hoạt động, không được bắt đầu điều trị với Golimumab.

Nếu nghi ngờ nhiễm lao tiềm ẩn, nên tư vấn với bác sĩ có kinh nghiệm trong điều trị bệnh lao. Trong tất cả các trường hợp được mô tả sau đây, nên xem xét cẩn thận cân bằng giữa lợi ích và nguy cơ khi dùng trị liệu Golimumab.

Nếu chẩn đoán bệnh lao thể không hoạt động (‘tiềm ẩn’), phải bắt đầu điều trị bệnh lao tiềm ẩn với các thuốc kháng lao trước khi bắt đầu dùng Golimumab, và tuân theo các khuyến cáo của địa phương.

Điều trị kháng lao cần được cân nhắc trước khi bắt đầu dùng Golimumab ở các bệnh nhân có nhiều hoặc có các yếu tố nguy cơ quan trọng dễ nhiễm bệnh lao mà xét nghiệm lao tiềm ẩn âm tính. Điều trị kháng lao cũng cần xem xét trước khi bắt đầu dùng Golimumab ở những bệnh nhân có tiền sử lao thể tiềm ẩn hoặc thể hoạt động nhưng không thể khẳng định được liệu trình điều trị bệnh lao đã đầy đủ.

Đã có các trường hợp lao thể hoạt động xuất hiện ở bệnh nhân sử dụng Golimumab trong lúc và sau khi điều trị lao tiềm ẩn. Bệnh nhân dùng Golimumab cần được theo dõi chặt chẽ các dấu hiệu và triệu chứng của lao thể hoạt động, bao gồm cả bệnh nhân có xét nghiệm âm tính với nhiễm lao tiềm ẩn, bệnh nhân đang điều trị lao tiềm ẩn, hoặc bệnh nhân trước đó đã điều trị nhiễm khuẩn lao.

Nên đề nghị tất cả bệnh nhân tìm bác sĩ tư vấn nếu có các dấu hiệu hoặc triệu chứng gợi ý bệnh lao (như ho dai dẳng, gầy ốm/sụt cân, sốt nhẹ) xuất hiện trong lúc hoặc sau khi điều trị với Golimumab.

Tái hoạt động siêu vi viêm gan B

Đã xảy ra các trường hợp virus viêm gan B (HBV) tái hoạt động ở những bệnh nhân là người lành mang virus (nghĩa là có xét nghiệm kháng nguyên bề mặt dương tính) đang dùng thuốc ức chế TNF, bao gồm cả Golimumab. Một số trường hợp đã dẫn đến tử vong.

Bệnh nhân cần được xét nghiệm nhiễm HBV trước khi bắt đầu điều trị với Golimumab. Đối với bệnh nhân có xét nghiệm nhiễm HBV dương tính, đề nghị tư vấn với bác sĩ chuyên khoa về điều trị viêm gan B.

Bệnh nhân mang HBV mạn tính cần dùng trị liệu Golimumab phải được theo dõi chặt chẽ về các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh viêm gan B thể hoạt động trong quá trình điều trị và vài tháng sau khi ngừng điều trị. Vẫn chưa có các dữ liệu đầy đủ về điều trị bệnh nhân là người mang mầm bệnh HBV với thuốc kháng virus kết hợp với thuốc ức chế TNF để ngăn chặn HBV tái hoạt động. Ở những bệnh nhân phát triển HBV tái hoạt động, nên ngừng dùng Golimumab và bắt đầu dùng liệu pháp kháng virus hữu hiệu cùng trị liệu hỗ trợ thích hợp.

Các u ác tính và các rối loạn tăng sinh lympho

Vai trò tiềm ẩn của trị liệu ức chế TNF trong sự phát triển các bệnh u ác tính vẫn chưa biết rõ.

Dựa trên kiến thức hiện nay, không thể loại trừ nguy cơ có thể xảy ra về sự phát triển các u lympho, bệnh bạch cầu hoặc các u ác tính khác ở bệnh nhân được điều trị với thuốc ức chế TNF. Cần thận trọng khi xem xét trị liệu ức chế TNF cho các bệnh nhân có tiền sử bệnh u ác tính hoặc khi cân nhắc tiếp tục điều trị cho bệnh nhân mới xuất hiện bệnh u ác tính.

U ác tính ở trẻ em: Đã có các báo cáo hậu mãi về các bệnh u ác tính, trong đó một số trường hợp tử vong trong số trẻ em, thanh thiếu niên và người trẻ tuổi (lên tới 22 tuổi) dùng thuốc ức chế TNF (bắt đầu điều trị lúc ≤18 tuổi). Khoảng một nửa (½) các trường hợp này là các u lympho. Số còn lại mắc các bệnh u ác tính khác nhau và cả các bệnh u ác tính hiếm gặp thường liên quan đến thuốc ức chế miễn dịch. Không thể loại trừ nguy cơ phát triển các bệnh u ác tính ở trẻ em và thanh thiếu niên được điều trị với các thuốc ức chế TNF.

U lympho và bệnh bạch cầu

Trong giai đoạn dùng thuốc đối chứng của các thử nghiệm lâm sàng với tất cả các thuốc ức chế TNF bao gồm Golimumab, số trường hợp u lympho xảy ra nhiều hơn ở bệnh nhân dùng thuốc kháng TNF khi so với nhóm chứng. Trong các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn IIb và giai đoạn III với Golimumab trên viêm khớp dạng thấp (RA), viêm khớp vẩy nến (PsA) và viêm cột sống dính khớp (AS), tỷ lệ mới mắc u lympho ở nhóm bệnh nhân điều trị với Golimumab cao hơn so với dự kiến trong quần thể chung. Đã có các báo cáo về bệnh bạch cầu xảy ra ở bệnh nhân dùng Golimumab. Nguy cơ cơ bản về u lympho và bệnh bạch cầu đã gia tăng ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp với bệnh lý viêm đã có từ lâu và có hoạt tính cao; điều này làm phức tạp việc ước lượng các nguy cơ.

Hiếm có báo cáo hậu mãi về u lympho tế bào T thể gan-lách (HSTCL) ở bệnh nhân sử dụng các thuốc ức chế TNF khác. Loại u lympho tế bào T hiếm gặp này có quá trình diễn tiến bệnh rất nhanh và thường gây tử vong. Hầu hết các trường hợp này xuất hiện ở thanh thiếu niên và bệnh nhân nam trẻ tuổi mà hầu hết các bệnh nhân này đều sử dụng đồng thời azathioprin (AZA) hoặc 6-mercaptopurin (6-MP) để điều trị bệnh viêm ruột. Cần xem xét cẩn thận nguy cơ tiềm ẩn khi phối hợp AZA hoặc 6-MP với Golimumab. Không thể loại trừ nguy cơ phát triển u lympho tế bào T thể gan-lách ở bệnh nhân sử dụng các thuốc ức chế TNF.

U ác tính khác ngoài u lympho: Trong giai đoạn dùng thuốc đối chứng của các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn IIb và III với Golimumab trên các bệnh nhân bị RA, PsA, AS, và viêm loét đại tràng, tỷ lệ mới mắc u ác tính không phải u lympho (không bao gồm ung thư da không phải u hắc tố) đều như nhau giữa nhóm Golimumab và nhóm chứng.

Loạn sản/ung thư đại tràng

Vẫn chưa biết rõ ảnh hưởng của trị liệu golimumab lên nguy cơ phát triển loạn sản hoặc ung thư đại tràng. Cần khám tầm soát định kỳ về loạn sản trước khi và trong khi điều trị bệnh cho tất cả bệnh nhân bị viêm loét đại tràng có nguy cơ loạn sản hoặc ung thư đại tràng gia tăng (ví dụ, bệnh nhân bị viêm loét đại tràng lâu ngày hoặc viêm xơ đường mật nguyên phát), hoặc những bệnh nhân có tiền sử loạn sản hoặc ung thư đại tràng. Đánh giá tầm soát nên bao gồm nội soi đại tràng và sinh thiết theo khuyến cáo của địa phương. Đối với những bệnh nhân mới được chẩn đoán loạn sản trong quá trình điều trị Golimumab, cần xem xét kỹ về lợi ích và nguy cơ cho từng bệnh nhân và cân nhắc có nên tiếp tục điều trị hay không.

Trong một thử nghiệm lâm sàng thăm dò đánh giá việc sử dụng Golimumab cho bệnh nhân bị hen nặng kéo dài, các báo cáo về u ác tính xảy ra nhiều hơn ở bệnh nhân dùng Golimumab khi so với nhóm chứng. Ý nghĩa của phát hiện này vẫn chưa được biết rõ.

Trong một thử nghiệm lâm sàng thăm dò đánh giá việc sử dụng một thuốc kháng TNF khác là infliximab trên bệnh nhân có bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) từ trung bình đến nặng, nhiều khối u ác tính, chủ yếu ở phổi hoặc đầu và cổ, đã được báo cáo ở nhóm dùng infliximab so với nhóm chứng. Tất cả các bệnh nhân đều có tiền sử nghiện thuốc lá nặng. Vì vậy, cần thận trọng khi sử dụng bất kỳ thuốc ức chế TNF ở bệnh nhân COPD, cũng như ở những bệnh nhân có nguy cơ mắc u ác tính gia tăng do nghiện thuốc lá nặng.

Ung thư da: U hắc tố ác tính đã được báo cáo ở những bệnh nhân sử dụng thuốc ức chế TNF, bao gồm Golimumab. Ung thư biểu mô tế bào Merkel đã được báo cáo ở những bệnh nhân sử dụng các thuốc ức chế TNF khác. Khám da định kỳ được khuyến cáo, đặc biệt cho những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ về ung thư da.

Suy tim sung huyết: Đã có các báo cáo về các trường hợp suy tim sung huyết diễn biến xấu đi và suy tim sung huyết mới khởi phát khi dùng các thuốc ức chế TNF, bao gồm Golimumab. Một vài trường hợp đã tử vong. Một thử nghiệm lâm sàng với một thuốc ức chế TNF khác đã ghi nhận suy tim sung huyết diễn biến xấu đi và tỷ lệ tử vong đã gia tăng vì suy tim sung huyết. Chưa nghiên cứu Golimumab trên những bệnh nhân suy tim sung huyết. Cần thận trọng khi dùng Golimumab cho bệnh nhân bị suy tim nhẹ (phân loại NYHA I/II). Nên theo dõi bệnh nhân chặt chẽ và phải ngừng dùng Golimumab nếu bệnh nhân mới xuất hiện các triệu chứng hoặc triệu chứng suy tim trước đó trở nên xấu đi.

Các biến cố về thần kinh: Sử dụng thuốc ức chế TNF, bao gồm Golimumab có liên kết với các trường hợp mới khởi phát hoặc làm trầm trọng thêm các triệu chứng lâm sàng và/hoặc bằng chứng trên X quang của các rối loạn thoái hóa myelin tại hệ thần kinh trung ương, bao gồm bệnh đa xơ cứng và rối loạn thoái hóa myelin ngoại biên. Cần cân nhắc cẩn thận lợi ích và nguy cơ của trị liệu ức chế TNF trước khi bắt đầu dùng trị liệu Golimumab ở bệnh nhân đã có rối loạn thoái hóa myelin từ trước hoặc mới khởi phát. Nên xem xét ngừng trị liệu Golimumab khi xuất hiện các rối loạn này.

Phẫu thuật: Kinh nghiệm còn hạn chế về tính an toàn của Golimumab trên bệnh nhân trải qua phẫu thuật, bao gồm chỉnh hình khớp. Nếu lên kế hoạch phẫu thuật, cần tính đến thời gian bán hủy kéo dài của thuốc. Nên giám sát chặt chẽ các bệnh nhiễm khuẩn và có hành động phù hợp đối với bệnh nhân cần phẫu thuật trong khi đang điều trị với Golimumab.

Ức chế miễn dịch: Các thuốc ức chế TNF, bao gồm Golimumab có khả năng ảnh hưởng đến cơ chế phòng vệ của cơ thể chống lại các bệnh nhiễm khuẩn và các bệnh ác tính vì TNF có vai trò trung gian trong phản ứng viêm và điều hòa đáp ứng miễn dịch tế bào.

Quá trình tự miễn: Việc thiếu hụt tương đối TNFα do thuốc ức chế TNF gây ra có thể dẫn đến khởi đầu quá trình tự miễn. Nếu một bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng gợi ý của hội chứng giống lupus sau khi điều trị với Golimumab và xuất hiện kháng thể kháng DNA sợi kép, phải ngừng điều trị với Golimumab.

Phản ứng huyết học: Đã có các báo cáo hậu mãi về giảm toàn thể huyết cầu, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính, thiếu máu bất sản, và giảm tiểu cầu ở các bệnh nhân dùng các thuốc ức chế TNF. Giảm các huyết cầu bao gồm giảm toàn thể huyết cầu được báo cáo ít xảy ra khi dùng Golimumab trong các thử nghiệm lâm sàng. Tất cả các bệnh nhân cần được tư vấn để chăm sóc y tế ngay lập tức nếu xuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng gợi ý rối loạn tạo máu (như sốt dai dẳng, bầm tím, chảy máu, xanh xao). Cần xem xét ngừng điều trị Golimumab ở những bệnh nhân có các bất thường đáng kể về huyết học đã được xác định.

Sử dụng đồng thời các thuốc ức chế TNF với anakinra: Đã gặp nhiễm khuẩn nghiêm trọng và giảm bạch cầu trung tính trong các nghiên cứu lâm sàng sử dụng đồng thời anakinra với thuốc ức chế TNF khác là etanercept, mà không có thêm lợi ích trên lâm sàng. Do bản chất của các biến cố bất lợi gặp trong điều trị phối hợp này, các độc tính tương tự có thể xảy ra khi phối hợp anakinra với các thuốc ức chế TNF khác. Không khuyến cáo dùng phối hợp Golimumab với anakinra.

Sử dụng đồng thời các thuốc ức chế TNF với abatacept: Trong các nghiên cứu lâm sàng, sử dụng đồng thời các thuốc ức chế TNF với abatacept làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn, bao gồm nhiễm khuẩn nghiêm trọng khi so với dùng thuốc ức chế TNF đơn độc, mà không có thêm lợi ích trên lâm sàng. Không khuyến cáo dùng phối hợp Golimumab với abatacept.

Sử dụng đồng thời với các liệu pháp sinh học khác: Không có đủ thông tin về việc sử dụng đồng thời Golimumab với các liệu pháp sinh học khác được dùng để điều trị các bệnh lý tương tự như chỉ định điều trị của Golimumab. Sử dụng phối hợp Golimumab với các liệu pháp sinh học khác không được khuyến cáo vì có khả năng làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn, và các tương tác dược lý tiềm năng khác.

Chuyển đổi giữa các liệu pháp sinh học DMARD: Cần thận trọng khi chuyển đổi thuốc sinh học này bằng thuốc sinh học khác và bệnh nhân phải được tiếp tục giám sát do hoạt tính sinh học trùng lắp có thể làm tăng nguy cơ xảy ra các tác dụng bất lợi, bao gồm nhiễm khuẩn.

Chủng ngừa/tác nhân lây nhiễm dùng để chữa bệnh

Trong thời gian điều trị với Golimumab, bệnh nhân có thể được tiêm chủng, ngoại trừ vaccin sống (xem phần Tương tác và Sử dụng ở phụ nữ có thai và cho con bú). Dữ liệu vẫn còn hạn chế về đáp ứng tiêm chủng với vaccin sống, hoặc nhiễm khuẩn do lây nhiễm thứ phát từ vaccin sống ở bệnh nhân đang dùng thuốc kháng TNF. Sử dụng vaccin sống có thể gây nhiễm khuẩn trên lâm sàng, bao gồm nhiễm khuẩn lan tỏa.

Sử dụng các tác nhân lây nhiễm khác để điều trị như vi khuẩn sống giảm độc (ví dụ, truyền nhỏ giọt BCG vào bàng quang để điều trị ung thư) có thể gây nhiễm khuẩn lâm sàng, bao gồm nhiễm khuẩn lan tỏa. Không khuyến cáo sử dụng đồng thời các tác nhân lây nhiễm để chữa bệnh cùng với Golimumab.

Phản ứng dị ứng: Theo kinh nghiệm hậu mãi, phản ứng quá mẫn toàn thân nghiêm trọng (kể cả phản ứng phản vệ) đã được ghi nhận sau khi tiêm Golimumab. Một số trong các phản ứng đó xảy ra ngay sau khi sử dụng Golimumab lần đầu. Nếu có phản ứng phản vệ hoặc các phản ứng dị ứng nghiêm trọng khác xảy ra, phải dừng tiêm Golimumab ngay và tiến hành điều trị thích hợp.

Nhạy cảm với mủ cao su (latex): Nắp đậy kim của bút tiêm/bơm tiêm chứa sẵn thuốc được sản xuất bằng cao su tự nhiên khô có chứa mủ cao su (latex), và có thể gây phản ứng dị ứng cho người nhạy cảm với latex.

Đối tượng đặc biệt

Người cao tuổi (≥65 tuổi): Trong các nghiên cứu giai đoạn III trên bệnh nhân bị RA, PsA, AS và UC, không thấy những khác biệt nói chung về các biến cố bất lợi (AE), các biến cố bất lợi nghiêm trọng (SAE) và các nhiễm khuẩn nặng khi dùng Golimumab ở bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên so với những bệnh nhân trẻ tuổi hơn. Tuy nhiên, cần thận trọng khi điều trị cho người cao tuổi và cần chú ý đặc biệt về sự xuất hiện các nhiễm khuẩn. Nghiên cứu nr-Axia SpA không có bệnh nhân từ 45 tuổi trở lên.

Suy thận và suy gan: Chưa thực hiện các nghiên cứu chuyên biệt sử dụng Golimumab trên bệnh nhân bị suy thận hoặc suy gan. Nên cẩn thận khi dùng Golimumab cho các đối tượng suy giảm chức năng gan.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Golimumab có thể có ảnh hưởng không đáng kể trên khả năng lái xe và vận hành máy móc. Chóng mặt có thể xảy ra sau khi tiêm Golimumab.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: C

US FDA pregnancy category: B (IV) / NA (SC)

Thời kỳ mang thai:

Không có dữ liệu đầy đủ về sử dụng golimumab ở phụ nữ có thai. Do tác dụng ức chế TNF, dùng golimumab trong thai kỳ có thể ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch bình thường ở trẻ sơ sinh. Các nghiên cứu trên động vật không cho thấy các tác hại trực tiếp hoặc gián tiếp đối với việc mang thai, sự phát triển phôi/thai, quá trình sinh đẻ hoặc phát triển sau sinh. Không khuyến cáo sử dụng golimumab ở phụ nữ mang thai; chỉ dùng golimumab cho phụ nữ có thai khi thật cần thiết.

Golimumab qua được nhau thai. Sau khi điều trị với một kháng thể đơn dòng ức chế TNF trong giai đoạn mang thai, kháng thể được phát hiện đến 6 tháng trong huyết thanh của trẻ sơ sinh được sinh ra từ các phụ nữ đã dùng thuốc này. Hậu quả là những trẻ sơ sinh này có nguy cơ cao bị nhiễm khuẩn. Không khuyến cáo tiêm chủng vaccin sống cho trẻ sơ sinh đã phơi nhiễm với golimumab trong tử cung mẹ, tính từ 6 tháng sau khi lần tiêm golimumab cuối cùng cho người mẹ trong quá trình mang thai.

Thời kỳ cho con bú:

Vẫn chưa biết rõ golimumab được tiết vào sữa người mẹ hoặc được hấp thu toàn thân sau khi trẻ bú sữa mẹ hay không. Golimumab được chứng minh tiết vào sữa ở khỉ, và vì các globulin miễn dịch của người cũng tiết vào sữa mẹ, nên không được cho con bú trong lúc điều trị và ít nhất trong vòng 6 tháng sau khi kết thúc điều trị với golimumab.

Phụ nữ có khả năng sinh con:

Phụ nữ có khả năng sinh con phải dùng biện pháp tránh thai thích hợp để ngừa thai và vẫn tiếp tục dùng biện pháp tránh thai ít nhất 6 tháng sau khi dùng liều golimumab cuối cùng.

Khả năng sinh sản:

Không tiến hành nghiên cứu về khả năng sinh sản trên động vật dùng golimumab. Một nghiên cứu về khả năng sinh sản ở chuột nhắt, bằng cách sử dụng một kháng thể tương tự có tác dụng ức chế chọn lọc hoạt động chức năng của TNFα ở chuột, đã cho thấy không có tác dụng nào liên quan đến khả năng sinh sản

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Trong giai đoạn đối chứng của các thử nghiệm then chốt về RA, PSA, AS, nr-Axial SpA, và viêm loét đại tràng (UC), nhiễm khuẩn đường hô hấp trên là phản ứng bất lợi của thuốc (ADR) thường gặp nhất được báo cáo trong 12,6% số bệnh nhân dùng trị liệu golimumab so với 11,0% ở nhóm chứng. Các ADR nghiêm trọng nhất đã được báo cáo khi dùng golimumab là các nhiễm khuẩn nghiêm trọng (bao gồm nhiễm khuẩn huyết, viêm phổi, lao, nhiễm nấm xâm lấn và nhiễm khuẩn cơ hội), rối loạn thoái hóa myelin, tái hoạt động HBV, suy tim sung huyết, các quá trình tự miễn (hội chứng giống lupus), các phản ứng huyết học, quá mẫn toàn thân nghiêm trọng (bao gồm phản ứng phản vệ), viêm mạch máu, u lympho và bệnh bạch cầu.

Bảng danh sách các phản ứng bất lợi: Bảng liệt kê các phản ứng bất lợi của thuốc khi dùng golimumab được ghi nhận trong các nghiên cứu lâm sàng và trong các báo cáo hậu mãi trên toàn cầu. Trong phạm vi các nhóm hệ thống cơ quan cụ thể, các phản ứng bất lợi của thuốc được liệt kê theo tần suất và sử dụng quy ước sau đây: rất thường gặp (≥1/10), thường gặp (≥1/100 đến <1/10), ít gặp (≥1/1000 đến <1/100), hiếm gặp (≥1/10.000 đến <1/1.000), rất hiếm gặp (<1/10.000), không rõ (không thể ước lượng từ dữ liệu có sẵn). Trong mỗi nhóm tần suất, các phản ứng bất lợi được thể hiện với thứ tự theo mức độ nghiêm trọng giảm dần.

Bảng 7. Danh sách các phản ứng bất lợi của thuốc
Nhiễm khuẩn và nhiễm ký sinh trùng
Rất thường gặp Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên (viêm mũi họng, viêm họng, viêm thanh quản và viêm mũi).
Thường gặp Nhiễm khuẩn (như viêm mõ tế bào), nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới (như viêm phổi), nhiễm virus (như cúm và herpes), viêm phế quản, viêm xoang, nhiễm nấm bê mặt, áp xe.
ít gặp Nhiễm khuẩn huyết bao gồm sốc nhiễm khuẩn, viêm thận-bể thận.
Hiếm gặp Bệnh lao, nhiễm khuẩn cư hội (như nhiệm nấm xâm lấn [nhiễm nấm histọplasma, nhiễm nấm coccidioides, viêm phổi do nâm Pneumocystis], nhiêm khuẩn, nhiêm mycobacteria không điển hình và nhiêm động vật nguyên sinh), tál hoạt động virus viêm gan B, viêm khớp do vi khuẩn, viêm bao hoạt dịch do nhiêm khuẩn.
u tăng sinh, lành tính, ác tính và không xác định được
ít gặp u tăng sinh (như ung thư da, ung thư biểu mõ tế bào vẩy và nét ruồi).
Hiếm gặp u lympho, bệnh bạch cầu, u hắc tố
Không rõ Ung thư biểu mô tế bào Merkel*, u lympho tế bào T thể gan-lách*.
Rối loạn hệ máu và hạch lympho
Thường gặp Thiếu máu.
ít gặp Giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, giảm toàn thể huyết cầu
Hiếm gặp Thiếu máu bất sản
Rối loạn hệ miễn dịch
Phổ biến Phản ứng dị ứng (co thắt phế quản, quá mẫn, nổi mày đay), tự kháng thể dương tính.
Hiếm gặp Phản ứng quá mẫn toàn thân nghiêm trọng (bao gồm phản ứng phản vệ), viêm mạch (toàn thân), bệnh u hạt lympho lành tính (sarcoidosis).
Rối loạn nội tiết
ít gặp Rối loạn tuyến giáp (như nhược giáp, cường giáp và bướu giáp lành tính).
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng
ít gặp Tăng glucose máu, tăng lipid.
Rối loạn về tâm thần
Thường gặp Trầm cảm, mất ngủ.
Rối loạn hệ thần kinh
Thường gặp Chóng mặt, nhức đầu, dị cảm.
ít gặp Các rối loạn về giữ thăng bằng.
Hiếm gặp Các rối loạn thoái hóa myellin (trung tâm và ngoại biên), loạn vị giác.
Rối loạn ở mắt
ít gặp Rối loạn thị giác (như nhìn mừ và giảm thị lực), viêm kết mạc, dị ứng mắt (như ngứa và kích ứng).
Rối loạn ở tim
ít gặp Loạn nhịp tim, các bệnh mạch vành gây thiếu máu cục bộ.
Hiếm gặp Suy tim sung huyết (mới khởl phát hoặc diễn tiến xấu).
Rối loạn mạch máu
Thường gặp Tăng huyết áp.
ít gặp Bệnh huyết khối (như huyết khối tĩnh mạch sâu và động mạch chủ), cơn đỏ bừng mặt.
Hiếm gặp Hiện tượng Raynaud.
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất
Thường gặp Hen và các triệu chứng liên quan đến hen (như thở khò khè và phản ứng quá mức của phế quản).
ít gặp Bệnh phổi kẽ.
Rối loạn dạ dày-ruột
Thường gặp Rối loạn tiêu hóa, đau dạ dày-ruột và đau bụng, buồn nôn, các rối loạn do viêm tại dạ dày-ruột (như viêm dạ dày và viêm đại tràng), viêm miệng.
ít gặp Táo bón, trào ngược dạ dày-thực quản.
Rối loạn gan-mật
Thường gặp Tăng enzym alanin aminotransferase, tăng enzym aspartat aminotransferase.
ít gặp Sỏi mật, các rối loạn ở gan.
Rối loạn da và mô dưới da
Thường gặp Ngứa, phát ban, rụng tóc, viêm da.
ít gặp Phản ứng da bọng nước, bệnh vẩy nến (mới khởi phát hoặc bệnh diễn tiến xấu, vẩy nến lòng bàn tay/bàn chân và mụn mủ), nổi mày đay.
Hiếm gặp Bong tróc da, viêm mạch (ở da).
Rối loạn hệ cư xương và mô liên kết
Hiếm gặp Hội chứng giống Lupus.
Rối loạn thận và đưừng niệu
Hiếm gặp Các rối loạn tại bàng quang, rối loạn tại thận.
Rối loạn hệ sinh sản và vú
ít gặp Các rối loạn tại vú, rối loạn kinh nguyệt.
Rối loạn toàn thân và tại vị trí dùng thuốc
Thường gặp Sốt, suy nhược, phản ứng tại vị trí tiêm (như đỏ tại nơi tiêm, mày đay, cứng, đau, bầm tím, ngứa, kích ứng và dị cảm tại vị trí tiêm), khó chịu ở ngực.
Hiếm gặp Chậm lành vết thưưng
Chấn thưưng, ngộ độc và các biến chứng của thủ thuật-phẫu thuật
Thường gặp Gãy xương
* Ghi nhận khi dùng các thuốc ức chế TNF khác, nhưng không thấy trong các nghiên cứu lâm sàng dùng golimumab.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Chưa thực hiện các nghiên cứu tương tác thuốc.

Sử dụng đồng thời với các liệu pháp sinh học khác: Không khuyến cáo phối hợp Golimumab với các trị liệu sinh học khác được dùng để điều trị các bệnh lý tương tự như chỉ định điều trị của Golimumab, bao gồm anakinra và abatacept.

Vaccin sống/tác nhân lây nhiễm dùng để chữa bệnh

Không dùng vaccin sống đồng thời với Golimumab.

Không dùng các tác nhân lây nhiễm để chữa bệnh cùng lúc với Golimumab.

Methotrexat: Mặc dù sử dụng đồng thời methotrexat làm nồng độ đáy của Golimumab ở trạng thái ổn định tăng cao hơn ở bệnh nhân bị RA, PsA hoặc AS, nhưng dữ liệu hiện có không đề xuất phải chỉnh liều Golimumab hoặc methotrexat.

4.9 Quá liều và xử trí:

Chưa có báo cáo về quá liều. Trong trường hợp quá liều, nên theo dõi bệnh nhân xem có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào của các tác dụng phụ và điều trị triệu chứng ngay lập tức.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Việc golimumab gắn vào TNF của người đã được chứng minh làm trung hòa sự bộc lộ trên bề mặt các tế bào do TNF-α kích thích của các phân tử kết dính E-selectin, phân tử kết dính tế bào thành mạch (VCAM)-1 và phân tử kết dính giữa các tế bào (ICAM)-1 do các tế bào nội mạc của người tiết ra. Trong phòng thí nghiệm, việc tiết interleukin (IL)-6, IL-8 và yếu tố tăng sinh dòng tế bào hạt-đại thực bào (granulocyte-macrophage colony stimulating factor (GM-CSF) từ các tế bào nội mạc của người do TNF kích thích cũng bị ức chế bởi golimumab.

Cải thiện nồng độ protein phản ứng-C (CRP) đã được ghi nhận so với nhóm dùng giả dược và điều trị với Golimumab dẫn đến giảm có ý nghĩa nồng độ IL-6, ICAM-1, matrix metalloproteinase (MMP)-3 và yếu tố tăng trưởng nội mạc mạch máu (VEGF) trong huyết thanh tính từ trị số ban đầu khi so với nhóm chứng. Ngoài ra, nồng độ TNF-α đã giảm ở các bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp (RA) và viêm cột sống dính khớp (AS) và nồng độ IL-8 đã giảm ở bệnh nhân bị viêm khớp vẩy nến (PsA). Những thay đổi này được quan sát thấy tại đợt đánh giá đầu tiên (tuần 4) sau khi bắt đầu dùng Golimumab và thường được duy trì đến suốt tuần 24.

Hiệu quả lâm sàng đã được nghiên cứu trên các bệnh sau :

Viêm khớp dạng thấp (RA)

Viêm khớp vẩy nến (PsA)

Viêm cột sống khớp trục

Viêm cột sống dính khớp (AS)

Viêm cột sống khớp trục không có hình ảnh tổn thương trên X quang (nr-Axial SpA)

Viêm loét đại tràng

Tính sinh miễn dịch

Trong tất cả các nghiên cứu giai đoạn III trên RA, PsA và AS đến hết tuần 52, các kháng thể kháng golimumab được phát hiện ở 5% (105/2115) bệnh nhân được điều trị với golimumab và hầu như tất cả các kháng thể đều là kháng thể trung hòa khi được kiểm tra trong phòng thí nghiệm. Các tỷ lệ tương tự cũng được thấy trong tất các chỉ định của bệnh khớp. Điều trị phối hợp với MTX đem lại tỷ lệ bệnh nhân có kháng thể kháng golimumab thấp hơn so với nhóm dùng golimumab không kèm theo MTX (khoảng 3% [41/1262] so với 8% [64/853], tương ứng).

Kháng thể kháng golimumab được phát hiện ở 4% (4/93) bệnh nhân bị nr-Axial SpA được điều trị với golimumab đến suốt tuần 16.

Trong các nghiên cứu giai đoạn II và III trên viêm loét đại tràng cho đến hết tuần 54, các kháng thể kháng golimumab được phát hiện ở 3% (26/946) bệnh nhân dùng golimumab. 68% (21/31) bệnh nhân có kháng thể dương tính là kháng thể trung hòa trong phòng thí nghiệm. Việc điều trị đồng thời với các thuốc điều hòa miễn dịch (azathioprin, 6 mercaptopurin và MTX) dẫn đến tỷ lệ bệnh nhân có kháng thể kháng golimumab thấp hơn so với nhóm dùng golimumab không kèm theo thuốc điều hòa miễn dịch (1% (4/308) so với 3% (22/638), tương ứng).

Sự xuất hiện các kháng thể kháng golimumab có thể làm tăng nguy cơ phản ứng tại vị trí tiêm (xem phần Cảnh báo). Số lượng bệnh nhân có kháng thể kháng golimumab dương tính không nhiều nên làm hạn chế khả năng đưa ra kết luận rõ ràng về mối quan hệ giữa các kháng thể kháng golimumab và hiệu quả hoặc tính an toàn của thuốc trên lâm sàng.

Các phân tích về tính sinh miễn dịch đặc thù theo sản phẩm và loại xét nghiệm nên việc so sánh tỷ lệ sinh kháng thể khi dùng thuốc này so với các sản phẩm khác là không phù hợp.

Cơ chế tác dụng:

Golimumab là kháng thể đơn dòng của người, tạo thành phức hợp có ái lực cao, bền vững với cả 2 dạng có hoạt tính sinh học của TNF ở người là dạng hòa tan và xuyên màng, kháng thể này ngăn cản TNF gắn vào thụ thể.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu:

Sau khi tiêm dưới da golimumab liều đơn cho đối tượng khỏe mạnh hoặc bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp, trung vị thời gian đạt nồng độ tối đa trong huyết thanh (Tmax) dao động từ 2 đến 6 ngày. Tiêm dưới da 50 mg golimumab cho đối tượng khỏe mạnh đã tạo nồng độ tối đa (Cmax) trong huyết thanh với giá trị trung bình ± SD là 3,1±1,4 µg/mL.

Sau khi tiêm dưới da liều đơn 100 mg, sự hấp thu golimumab đều tương tự nhau khi tiêm ở vị trí cánh tay, bụng, và đùi, với sinh khả dụng tuyệt đối trung bình là 51%. Do golimumab có dược động học hầu như phụ thuộc liều sau khi tiêm dưới da, sinh khả dụng tuyệt đối của liều golimumab 50 mg hoặc 200 mg được cho là tương tự như liều 100 mg.

Phân bố:

Thể tích phân bố trung bình của Golimumab là 115±19 mL/kg sau khi tiêm tĩnh mạch 1 liều đơn.

Thải trừ:

Độ thanh thải toàn thân của golimumab được ước tính là 6,9±2,0 mL/ngày/kg. Thời gian bán thải cuối cùng được ước tính là 12±3 ngày ở người khoẻ mạnh và giá trị này xảy ra tương tự ở bệnh nhân bị RA, PsA, AS hoặc viêm loét đại tràng (UC).

Khi 50 mg golimumab được tiêm dưới da cho bệnh nhân bị RA, PsA hoặc AS mỗi 4 tuần, nồng độ huyết thanh đạt trạng thái ổn định đến tuần 12. Với việc sử dụng đồng thời MTX, trị liệu golimumab 50 mg tiêm dưới da mỗi 4 tuần có nồng độ đáy trung bình (± độ lệch chuẩn) trong huyết thanh ở trạng thái ổn định xấp xỉ 0,6±0,4 μg/mL ở bệnh nhân bị RA thể hoạt động dù đang dùng MTX, và khoảng 0,5±0,4 μg/mL ở bệnh nhân bị PsA thể hoạt động và khoảng 0,8±0,4 μg/mL ở bệnh nhân bị AS. Nồng độ đáy trung bình trong huyết thanh ở trạng thái ổn định của golimumab trên bệnh nhân có nr-Axial SpA cũng có giá trị tương tự như ở bệnh nhân bị AS khi dùng chế độ liều 50mg golimumab tiêm dưới da mỗi 4 tuần.

Bệnh nhân bị RA, PsA hoặc AS không dùng MTX đồng thời đã có nồng độ đáy của golimumab ở trạng thái ổn định thấp hơn 30% so với bệnh nhân dùng golimumab cùng lúc với MTX. Trong một số lượng bệnh nhân hạn chế bị RA được tiêm golimumab dưới da kéo dài 6 tháng, sử dụng đồng thời MTX đã làm giảm khoảng 36% độ thanh thải biểu kiến của golimumab. Tuy nhiên, phân tích dược động học trong quần thể đã cho thấy việc sử dụng đồng thời với các thuốc NSAID, corticosteroid dạng uống hoặc sulfasalazin không gây ảnh hưởng đến độ thanh thải biểu kiến của golimumab.

Sau các liều dẫn nhập 200 mg và 100 mg golimumab tại tuần 0 và tuần 2 tương ứng, và liều duy trì 50 mg hoặc 100 mg golimumab tiêm dưới da mỗi 4 tuần sau đó cho bệnh nhân có viêm loét đại tràng, nồng độ golimumab huyết thanh đạt trạng thái ổn định khoảng 14 tuần sau khi bắt đầu điều trị. Trị liệu golimumab liều 50 mg hoặc 100 mg tiêm dưới da mỗi 4 tuần trong giai đoạn duy trì điều trị đã dẫn đến nồng độ đáy trung bình trong huyết thanh ở trạng thái ổn định, lần lượt khoảng 0,9±0,5 μg/mLvà 1,8±1,1 μg/mL.

Sử dụng đồng thời các thuốc điều hòa miễn dịch không gây tác động đáng kể nào lên nồng độ đáy của golimumab ở trạng thái ổn định trong nhóm bệnh nhân có viêm loét đại tràng được tiêm golimumab dưới da liều 50 mg hoặc 100 mg mỗi 4 tuần.

Những bệnh nhân phát sinh kháng thể kháng golimumab thường có nồng độ đáy thấp trong huyết thanh của golimumab ở trạng thái ổn định (xem phần Đặc tính dược lực học).

Quan hệ tuyến tính với liều dùng: Golimumab có dược động học tỷ lệ thuận với liều dùng khi tiêm 1 liều tĩnh mạch duy nhất trong khoảng liều từ 0,1 đến 10,0 mg/kg ở bệnh nhân bị RA. Dược động học theo liều dùng cũng được ghi nhận sau khi tiêm một liều duy nhất dưới da trong giới hạn 50 mg-400 mg ở người khỏe mạnh.

Ảnh hưởng của thể trọng lên dược động học: Độ thanh thải biểu kiến của golimumab được ghi nhận có xu hướng gia tăng theo thể trọng.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Sorbitol (E420), L-histidine, L-histidine monohydrochloride monohydrate, Polysorbate 80, Water for injection.

6.2. Tương kỵ :

Vì không có các nghiên cứu về khả năng tương thích, không được pha trộn thuốc này với các thuốc khác.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản trong tủ lạnh 2°C-8°C. Bảo quản trong bao bì gốc cho đến khi sử dụng, tránh ánh sáng, không để đông lạnh và không lắc.

6.4. Thông tin khác :

Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng

Dữ liệu tiền lâm sàng cho thấy không có tác hại đặc biệt cho người dựa vào các nghiên cứu thông thường về dược an toàn, độc tính dùng liều lập lại, độc tính trên khả năng sinh sản và sự phát triển.

Chưa thực hiện các nghiên cứu về khả năng gây đột biến gien, khả năng sinh sản trên động vật cũng như khả năng gây ung thư khi dùng golimumab lâu dài.

Số lượng chuột cái mang thai đã giảm trong một nghiên cứu về khả năng sinh sản và chức năng sinh sản nói chung được tiến hành trên chuột nhắt, bằng cách sử dụng kháng thể tương tự có tác dụng ức chế chọn lọc hoạt động chức năng của TNFα ở chuột nhắt. Vẫn chưa biết rõ liệu phát hiện này là do tác động của thuốc lên chuột đực và/hoặc chuột cái. Không ghi nhận dấu hiệu nào về độc tính cho mẹ, độc tính cho phôi thai hoặc gây quái thai trong một nghiên cứu về độc tính trên sự phát triển ở chuột nhắt bằng cách tiêm cùng loại kháng thể tương tự này, và ở khỉ đuôi dài dùng golimumab.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.