Anti thymocyte Globulin – Grafalon

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Anti Thymocyte Immunoglobulin (Rabbit)

Phân loại: Thuốc ức chế miễn dịch chọn lọc.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): L04AA04.

Biệt dược gốc:

Biệt dược: GRAFALON

Hãng sản xuất : Neovii Biotech GmbH- Đức.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch đậm đặc pha dung dịch tiêm truyền: Mỗi mL: Anti-human T-lymphocyte immunoglobulin từ Thỏ 20mg.

Thuốc tham khảo:

GRAFALON
Mỗi ml dung dịch đậm đặc có chứa:
Anti thymocyte globulin …………………………. 20 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Grafalon được chỉ định kết hợp với các thuốc ức chế miễn dịch khác nhằm chống lại các tế bào có chức năng miễn dịch chính là nguyên nhân gây ra sự thải ghép cấp tính hoặc bệnh mảnh ghép chống lại vật chủ (GVHD). Grafalon thường được dùng cho các chỉ định sau:

Dự phòng thải ghép cấp tính ở bệnh nhân cấy ghép nội tạng loại dị ghép: Grafalon được chỉ định kết hợp với thuốc ức chế miễn dịch khác (như glucocorticosteroid, thuốc đối kháng purin, chất ức chế calcineurin hoặc chất ức chế mTOR) để tăng cường ức chế miễn dịch sau khi cấy ghép nội tạng loại dị ghép.

Điều trị thải ghép cấp tính đã kháng corticosteroid sau khi cấy ghép nội tạng loại dị ghép: Grafalon được chỉ định để điều trị thải ghép cấp tính đã kháng corticosteroid sau khi cấy ghép nội tạng loại dị ghép nếu hiệu quả điều trị của methyprednisolon được chứng minh là không thỏa đáng.

Dự phòng bệnh mảnh ghép chống lại vật chủ ở người trưởng thành sau khi cấy ghép tế bào gốc: Grafalon được chỉ định để phòng bệnh mảnh ghép chống lại vật chủ ở người trưởng thành mắc ung thư tế bào máu ác tính sau khi cấy ghép tế bào gốc từ người hiến không có cùng huyết thống kết hợp với điều trị dự phòng bằng Cyclosporin A/methotrexat.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Grafalon là dung dịch đậm đặc để pha dung dịch tiêm truyền có pH 3,7±0,3 và không được tiêm trực tiếp. Phải pha loãng bằng dung môi natri chlorid 9 mg/mL (0,9%) trước khi truyền tĩnh mạch cho bệnh nhân. Khuyến cáo tỷ lệ pha loãng là 1:7 (cứ 1 mL Grafalon thì thêm 6 mL dung dịch natri chlorid) để duy trì nồng độ thẩm thấu yêu cầu. Các tỷ lệ pha loãng cao hơn làm cho dung dịch tiêm truyền có giá trị pH lớn hơn có thể dẫn đến hình thành hạt. Không sử dụng khi dung dịch có chứa các hạt nhìn thấy được.

Thời gian truyền khuyến cáo trong cấy ghép nội tạng là 4 giờ, còn cấy ghép tế bào gốc là 4-12 giờ. Trường hợp truyền trong khi phẫu thuật, thời gian truyền thường là từ 0,5 đến 2 giờ.

Trong quá trình truyền, bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ các triệu chứng quá mẫn hoặc sốc phản vệ. Khi dùng liều đầu tiên Grafalon, nên giảm tốc độ truyền trong 30 phút đầu tiên. Nếu không có triệu chứng không dung nạp xảy ra, có thể tăng tốc độ truyền. Trong trường hợp gặp phản ứng phản vệ hoặc quá mẫn, các bác sỹ phải chuẩn bị trước để giải quyết kịp thời và thực hiện các biện pháp điều trị thích hợp.

Nếu dùng đường truyền khác thông qua catheter tĩnh mạch trung tâm, có thể lựa chọn tĩnh mạch ngoại vi có lưu lượng máu và đường kính lớn. Khuyến cáo dùng methyprednisolon và/hoặc thuốc kháng histamin trước khi truyền nhằm nâng cao khả năng dung nạp toàn thân và cục bộ. Cần xem xét việc vệ sinh tại vị trí tiêm đúng tiêu chuẩn, giảm tốc độ truyền và/hoặc thay đổi vị trí tĩnh mạch. Không thêm natri heparin vào dung dịch tiêm truyền Grafalon hay dùng chung trong một đường truyền.

Liều dùng:

Grafalon phải được kê đơn bởi bác sỹ có kinh nghiệm trong việc sử dụng các liệu pháp ức chế miễn dịch. Grafalon phải được dùng dưới sự giám sát của các cán bộ y tế có trình độ.

Liều dùng của Grafalon phụ thuộc vào từng chỉ định. Liều khuyến cáo dựa trên thể trọng.

Dự phòng thải ghép cấp tính ở bệnh nhân cấy ghép nội tạng loại dị ghép:

Khoảng liều khuyến cáo là 2-5 mg/kg/ngày Grafalon. Liều thông thường nhất là 3-4 mg/kg/ngày.

Nên bắt đầu điều trị vào ngày cấy ghép, lúc trước, trong hoặc ngay sau khi phẫu thuật. Tùy thuộc vào tình trạng của bệnh nhân, liều dùng hàng ngày và thuốc ức chế miễn dịch dùng đồng thời, khoảng thời gian điều trị khuyến cáo là từ 5 đến 14 ngày.

Điều trị thải ghép cấp tính đã kháng corticosteroid sau khi cấy ghép nội tạng:

Khoảng liều khuyến cáo là 3-5 mg/kg/ngày Grafalon. Liều thông thường nhất là 3-4 mg/kg/ngày.

Khoảng thời gian dùng thuốc sẽ khác nhau tùy thuộc tình trạng của các cơ quan cấy ghép và đáp ứng lâm sàng, thường là từ 5 đến 14 ngày.

Dự phòng bệnh mảnh ghép chống lại vật chủ ở người trưởng thành sau khi cấy ghép tế bào gốc

Là một phần của phác đồ điều trị myeloablative (diệt tủy xương) để cấy ghép tế bào gốc, liều khuyến cáo là 20 mg/kg/ngày Grafalon, thường bắt đầu từ 1 đến 3 ngày trước khi cấy ghép tế bào gốc.

4.3. Chống chỉ định:

Quá mẫn với hoạt chất hoặc với bất cứ thành phần tá dược nào của thuốc.

Những bệnh nhân bị nhiễm trùng do vi khuẩn, virut, ký sinh trùng hoặc nấm mà không được kiểm soát thích hợp.

Những bệnh nhân cấy ghép tạng bị giảm tiểu cầu nghiệm trọng (ít hơn 50000 tiểu cầu/µl) vì Grafalon có thể gây nặng thêm tình trạng giảm tiểu cầu và do đó làm tăng nguy cơ xuất huyết.

Những bệnh nhân có khối u ác tính ngoại trừ trường hợp cấy ghép tế bào gốc được thực hiện như một phần của việc điều trị.

4.4 Thận trọng:

Bệnh nhân dùng Grafalon phải được điều trị tại các cơ sở được trang bị tốt và nhân viên với phòng thí nghiệm đầy đủ và các nguồn lực y tế hỗ trợ để điều trị khẩn cấp khi cần thiết. Grafalon phải được dùng dưới sự giám sát của các cán bộ y tế có trình độ.

Phản ứng quá mẫn: Phản ứng quá mẫn đã được được báo cáo khi bệnh nhân dùng Grafalon. Trước khi bắt đầu dùng Grafalon, khuyến cáo nên xác định xem liệu bệnh nhân có tiền sử dị ứng không, đặc biệt là với protein thỏ.

Trường hợp tái phơi nhiễm do tái điều trị với Grafalon hoặc điều trị bằng các chế phẩm là kháng thể thỏ của các nhà sản xuất khác, sẽ tăng nguy cơ bị phản ứng phản vệ bởi sự mẫn cảm có thể có trong lần điều trị trước.

Giảm tiểu cầu nghiêm trọng: Tạm ngừng hoặc dừng hẳn điều trị bằng Grafalon ở những bệnh nhân cấy ghép nội tạng bị giảm tiểu cầu nghiêm trọng (dưới 50000 tiểu cầu/µL) vì Grafalon có thể làm nặng thêm tình trạng giảm tiểu cầu và do vậy làm tăng nguy cơ xuất huyết. Các cán bộ lâm sàng nên chuẩn bị trước các biện pháp cấp cứu thích hợp.

Rối loạn chức năng gan: Cần thận trọng đặc biệt khi sử dụng Grafalon ở những bệnh nhân mắc các bệnh về gan.

Rối loạn đông máu đã có từ trước có thể bị trầm trọng thêm. Khuyến cáo theo dõi chặt chẽ số lượng tiểu cầu và các chỉ số đông máu.

Rối loạn về tim mạch: Cần thận trọng đặc biệt khi sử dụng Grafalon ở những bệnh nhân mắc hoặc nghi ngờ mắc các rối loạn về tim mạch. Ở những bệnh nhân bị huyết áp thấp hoặc suy tim mất bù có các triệu chứng tư thế đứng (như bất tỉnh, suy nhược, nôn, buồn nôn), nên xem xét truyền chậm hoặc ngừng truyền.

Nhiễm trùng: Nói chung, điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch làm tăng nguy cơ nhiễm trùng. Những bệnh nhân điều trị bằng Grafalon có nguy cơ cao phát triển các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn, virut, ký sinh trùng và/hoặc nấm. Cần theo dõi chặt chẽ và có các biện pháp điều trị thích hợp. Ở những bệnh nhân tiến hành cấy ghép tế bào gốc, khuyến cáo giám sát tình trạng CMV và EBV và điều trị dự phòng thích hợp.

Tiêm chủng: Trong quá trình điều trị với Grafalon, bệnh nhân nên được khuyến cáo là các vaccin bất hoạt có thể bị giảm hiệu quả. Có thể chỉ định vaccin sống giảm độc lực cho những bệnh nhân suy giảm miễn dịch.

Cảnh báo về các tác nhân truyền nhiễm: Các biện pháp chuẩn nhằm dự phòng nhiễm trùng do sử dụng các sinh phẩm y tế được bào chế từ các thành phần của người bao gồm lựa chọn người hiến, sàng lọc người hiến về các dấu hiệu đặc biệt của nhiễm trùng và kể cả các bước của quy trình sản xuất nhằm làm bất hoạt/loại bỏ virut. Mặc dù vậy, khi sử dụng các thuốc này, khả năng lây nhiễm các tác nhân nhiễm khuẩn không thể tránh khỏi hoàn toàn. Điều này cũng áp dụng cho các virut chưa rõ hoặc mới xuất hiện và các mầm bệnh khác.

Các biện pháp này áp dụng cho Grafalon được coi là có hiệu quả đối với các virut có vỏ bao bọc như virut gây suy giảm miễn dịch (HIV),virut viêm gan B (HBV) và virut viêm gan C (HCV) và virut viêm gan A không vỏ và parvovirut B19.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Không có tác động.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: C

US FDA pregnancy category: NA

Thời kỳ mang thai:

Không có dữ liệu trên động vật. Chưa có dữ liệu lâm sàng cho phụ nữ mang thai hoặc phụ nữ cho con bú.

Chưa rõ những nguy cơ tiềm ẩn đối với thai nhi. Cần thận trọng khi kê đơn cho phụ nữ mang thai.

Thời kỳ cho con bú:

Phụ nữ cho con bú: Ít nhất là kháng thể người có khả năng đi qua hàng rào nhau thai hoặc được bài tiết vào sữa mẹ. Do đó, quyết định điều trị cho phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú nên được thực hiện bởi các bác sĩ điều trị và dựa trên đánh giá rủi ro/lợi ích.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Grafalon là một chế phẩm chứa kháng thể có đặc tính ức chế miễn dịch. Tác dụng phụ phổ biến liên quan đến phân nhóm này bao gồm các triệu chứng liên quan đến giải phóng cytokin, phản ứng quá mẫn như sốc phản vệ và các hiện tượng dị ứng khác, tăng tính nhạy cảm với nhiễm trùng và sự xuất hiện các khối u ác tính.

Bản chất và tần suất của các phản ứng bất lợi mô tả trong phần này được phân tích trong một phân tích gộp về tính an toàn dựa trên 6 nghiên cứu lâm sàng bao gồm 242 bệnh nhân, trong đó 136 bệnh nhân được chỉ định dự phòng thải ghép khi cấy ghép thận và 106 bệnh nhân được điều trị trước khi cấy ghép tế bào gốc loại dị ghép. Khoảng 94% bệnh nhân gặp ít nhất một phản ứng không mong muốn. Mô hình của các phản ứng bất lợi phản ánh một phần biến chứng thường xảy ra sau khi cấy phép thận (nhiễm trùng đường tiết niệu, suy thận) và cấy ghép tế bào gốc (giảm huyết cầu toàn thể, viêm niêm mạc).

Trong bảng “Các phản ứng không mong muốn”, phản ứng phụ được báo cáo với Grafalon được liệt kê và phân loại theo tần suất và hệ cơ quan. Nhóm tần suất được xác định theo quy ước sau: Rất thường gặp (≥1/10), thường gặp (≥1/100 đến <1/10), ít gặp (≥1/1000 đến <1/100). Trong mỗi nhóm tần suất, các tác dụng không mong muốn được sắp xếp theo thứ tự giảm dần (xem bảng).

Bảng các phản ứng không mong muốn của Grafalon
Các rối loạn về máu và mạch bạch huyết
Thướng gặp Thiếu máu huyết cầu toàn thể**, giảm tiểu cầu, thiếu máu, giảm bạch cầu
ít gặp Bệnh đa hồng cầu
Các rối loạn về tim mạch
Thướng gặp Nhịp tim nhanh
Các rối loạn về mắt
Thướng gặp Chứng sợ ánh sáng
Các rối loạn về tiêu hóa
Rất thường gặp Buồn nôn, nõn, tiêu chảy, đau bụng
Thướng gặp Chứng viêm miệng
ít gặp Chứng trào ngược thực quản, khó tiêu
Các rối loạn chung và tại chỗ tiêm
Rất thường gặp Sốt*, ớn lạnh
Thướng gặp Suy nhược, đau ngực, sốt cao, viêm niêm mạc, phù ngoại biên.
ít gặp Phù nề
Rối loạn gan-mật
Thướng gặp Tăng bilirubin máu
Các rối loạn về hệ miễn dịch
Thướng gặp Sốc phản vệ**, phản ứng quá mẫn, nhạy cảm
Nhiễm trùng và hoại tử
Rất thường gặp Nhiễm trùng CMV*, nhiễm khuẩn đường tiết niệu*
Thướng gặp Nhiễm khuẩn huyết**, viêm phổi**, viêm bể thận*, nhiễm herpes, cúm, nấm Candida miệng, viêm phế quản, viêm mũi, viêm xoang, viêm họng, viêm da.
ít gặp Nhiễm trùng vị trí đặt ống thõng, nhiễm virut Epstein-Barr, nhiễm trùng đường tiêu hóa, viêm quầng, nhiễm trùng vết thương.
Khảo sát
Thướng gặp Tăng Creatinin máu*, kháng thể cytomegalovirus dương tính, protein phản ứng c
ít gặp Tăng men gan
Rối loạn về dinh dưỡng và chuyển hóa
Thướng gặp Tăng lipid máu
ít gặp Giữ nước, tăng cholesterol máu
Rối loạn cơ xương và mô liên kết
Thướng gặp Đau cơ, đau khớp, đau lưng, cứng cơ xương
Khối u lành tính, u ác tính và u không xác định (bao gồm u nang và u polyp)
Thướng gặp Rối loạn tế bào lympho*
Rối loạn hệ thần kinh
Rất thường gặp Đau đầu, run rẩy
Thướng gặp Dị cảm
Rối loạn thận và tiết niệu
Thướng gặp Hoại tử ống thận*, đái máu
ít gặp Tổn thương thận**, hoại tử thận*
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất
Rất thường gặp Khó thở
Thướng gặp Ho, chảy máu cam
Rối loạn da và các mõ dưới da
Thướng gặp Ban đỏ, ngứa, phát ban
ít gặp Phát ban do thuốc
Rối loạn mạch máu
Rất thường gặp Đỏ bừng
Thướng gặp Tăng huyết áp*, bệnh tắc tĩnh mạch, hạ huyết áp
ít gặp Sốc**, u bạch huyết
* Phản ứng nghiêm trọng
** Phản ứng nghiêm trọng, vài trướng hợp đom lẻ có gây tử vong.

Các tác dụng phụ cần quan tâm đặc biệt

Các triệu chứng liên quan đến giải phóng cytokin: Các phản ứng này xảy ra do sự giải phóng cytokin và bao gồm sốt, ớn lạnh, nhức đầu, buồn nôn, nôn, nhịp tim nhanh và các thay đổi của hệ tuần hoàn. Những phản ứng này có thể được mô tả theo các thực thể lâm sàng của hội chứng giải phóng cytokin. Chúng thường được quan sát thấy trong hoặc sau khi dùng Grafalon. Các triệu chứng này thường dễ điều trị và có thể dùng thuốc dự phòng để làm giảm nhẹ các triệu chứng.

Phản ứng quá mẫn: Các phản ứng như đỏ bừng, phát ban, ban đỏ, phù nề, khó thở có hoặc không có co thắt phế quản, và ho thường được quan sát thấy trong và sau quá trình điều trị. Những phản ứng này thường đáp ứng tốt với điều trị. Dùng thuốc dự phòng thích hợp có thể cải thiện các triệu chứng này. Nếu xảy ra sốc phản vệ/quá mẫn thì phải ngừng truyền ngay lập tức. Bệnh huyết thanh được quan sát thấy nếu Grafalon được dùng trong thời gian dài và ở liều thấp hơn, hiếm khi nghiêm trọng và thường đáp ứng tốt với điều trị triệu chứng.

Các thay đổi về huyết học: Các thay đổi tạm thời về số lượng tiểu cầu và bạch cầu, cụ thể là giảm tiểu cầu và giảm bạch cầu thường được quan sát thấy sau khi tiêm Grafalon. Thiếu máu cũng thường được quan sát thấy sau khi dùng Grafalon.

Nhiễm trùng: Các bệnh nhân sử dụng các thuốc ức chế miễn dịch thường tăng nhạy cảm với nhiễm trùng. Trong năm đầu tiên sau khi ghép nội tạng, phần lớn các bệnh nhân dùng Grafalon bị nhiễm trùng do vi khuẩn, virut hoặc nấm. Nhiễm trùng đường tiết niệu là một bệnh nhiễm khuẩn rất phổ biến; nhiễm virut rất thường gặp gây ra bởi cytomegalovirus (CMV). Loại nhiễm trùng thường được báo cáo gồm nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn, viêm phổi do vi khuẩn, viêm bể thận, nhiễm virut herpetic và nấm miệng do candida. Nhiễm trùng do EBV, viêm phổi do CMV và viêm dạ dày ruột do CMV là những bệnh nhiễm virut ít gặp. Nhiễm candida hệ thống là một loại nhiễm nấm ít gặp. Có các báo cáo riêng lẻ về các bệnh nhiễm trùng đe dọa tính mạng hoặc thậm chí gây tử vong. Theo dõi và điều trị dự phòng thích hợp có thể làm giảm tỷ lệ nhiễm trùng.

Bệnh ác tính: Tỷ lệ mắc bệnh ác tính xảy ra sau điều trị với Grafalon nói chung là thấp ở các nghiên cứu và các bài báo được xuất bản và so với tỷ lệ mắc bệnh được quan sát thấy khi phối hợp các thuốc ức chế miễn dịch khác. Bệnh tăng sinh mô bạch huyết sau cấy ghép được báo cáo riêng lẻ từ những bệnh nhân tiến hành cấy ghép tế bào gốc dị ghép (1,7%).

Các phản ứng quan trọng khác: Các trường hợp tan máu hiếm gặp (ít hơn 1/1000 bệnh nhân) đã được báo cáo có liên quan đến sử dụng Grafalon và bị tử vong trong vài trường hợp đơn lẻ.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Hiện chưa có nghiên cứu nào về tương tác được thực hiện.

Các thuốc ức chế miễn dịch khác: Các thuốc ức chế miễn dịch khác thường được dùng phối hợp với Grafalon. Không quan sát thấy có tương tác trực tiếp giữa Grafalon và corticosteroid, chất đối kháng purin, chất ức chế calcineurin hoặc chất ức chế mTOR.

Tuy nhiên, khi dùng đồng thời các thuốc trên có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùng, giảm tiểu cầu và thiếu máu. Do đó, những bệnh nhân điều trị bằng liệu pháp ức chế miễn dịch kết hợp cần được theo dõi một cách cẩn thận và cần đáp ứng đầy đủ với phác đồ điều trị.

Tiêm chủng: Đối với những bệnh nhân suy giảm miễn dịch, chống chỉ định tiêm vaccin sống giảm độc lực. Khả năng đáp ứng của kháng thể với các loại vaccin khác có thể bị giảm.

4.9 Quá liều và xử trí:

Trường hợp quá liều, khuyến cáo dùng ngay kháng sinh phổ rộng, thuốc chống nấm và chống virut.

Nên ngừng sử dụng Grafalon và nên điều chỉnh bất kỳ liệu pháp ức chế miễn dịch đồng thời nào dựa theo huyết đồ (đặc biệt là bạch cầu và tế bào lympho). Cần theo dõi chặt chẽ số lượng tiểu cầu và bắt đầu các điều trị thay thế thích hợp.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Nhóm dược lý điều trị: Thuốc ức chế miễn dịch đặc hiệu.

Mã ATC: L04AA04

Grafalon là một gamma globulin tinh khiết, tiệt trùng, thu được sau khi gây miễn dịch Thỏ bằng tế bào Tuyến ức người (tế bào Jurkat, là một dòng tế bào lymphoblastoid). Sự biểu hiện của các marker tế bào T trong tế bào Jurkat tương ứng với tác dụng của Grafalonlên tế bào lympho. Grafalon chứa các kháng thể chống lại kháng nguyên bề mặt của tế bào Jurkat.

Phân tích các lympho subset ở những bệnh nhân dùng Grafalon nhận thấy sự giảm của các lympho subset vận chuyển protein bề mặt mà được biểu hiện bằng dòng tế bào Jurkat.

Grafalon là chất gây độc tế bào kháng tế bào lympho người. Dữ liệu chỉ ra rằng tế bào lympho hoạt động nhạy cảm hơn.

Grafalon không kích hoạt tế bào T (thông qua CD3) hoặc tế bào lympho nhưng ức chế hoạt động của tế bào T bởi kháng thể kháng CD3.

Grafalon giảm sự di căn của khối u ác tính bằng cách liên kết với các phân tử kết dính.

Đặc tính chống kết dính (do hoạt tính kháng LFA-1 và kháng ICAM-1) có thể lý giải tại sao Grafalon làm giảm sức cản thành mạch ở mạch máu thận và làm giảm lưu giữ tế bào lympho trong thận thận khi thận lợn được tưới máu chứa tế bào lympho của người được nuôi cấy cùng hoặc không cùng Grafalon.

Grafalon giúp kéo dài thời gian tồn tại miếng ghép da ở khỉ nâu. Ức chế miễn dịch đã được chứng minh trong mô hình này và giảm bạch cầu và giảm lympho cũng được ghi nhận. Ở loài khỉ đuôi dài, Grafalon có tác dụng có lợi trên những tổn thương thiếu máu cục bộ/tái tưới máu bằng cách ức chế sự kết dính của tế bào lympho và bạch cầu trung tính.

Ở những bệnh nhân ghép thận theo phác đồ chuẩn với Grafalon, số lượng bạch cầu và tiểu cầu giảm nhưng đã trở về mức bình thường trong vòng 10 ngày sau khi cấy ghép. Ngoài ra, số lượng tế bào lympho và tiểu quần thể lympho bào giảm đáng kể. Quan sát thấy số lượng CD2, CD3, CD4 và CD8 giảm. Trong 20 ngày đầu sau phẫu thuật, giá trị CD8 đã trở về mức bình thường nhưng không quan sát thấy ở CD2, CD3 và CD4. Tác dụng như đã mô tả của phác đồ chuẩn với Grafalon ở tiểu quần thể lympho bào và tỷ lệ CD4/CD8 đảo chiều liên tục trong vòng 66 tháng đã được báo cáo sau khi ghép thận.

Sau khi dùng liều cao 9 mg/kg thể trọng Grafalon, TNF-α và IL-10 tăng trong khi IL12p40 giảm nhẹ và IL-12p70 không được kích thích.

Cơ chế tác dụng:

Grafalon là một gamma globulin tinh khiết, tiệt trùng, thu được sau khi gây miễn dịch Thỏ bằng tế bào Tuyến ức người (tế bào Jurkat, là một dòng tế bào lymphoblastoid). Sự biểu hiện của các marker tế bào T trong tế bào Jurkat tương ứng với tác dụng của Grafalonlên tế bào lympho. Grafalon chứa các kháng thể chống lại kháng nguyên bề mặt của tế bào Jurkat.

Phân tích các lympho subset ở những bệnh nhân dùng Grafalon nhận thấy sự giảm của các lympho subset vận chuyển protein bề mặt mà được biểu hiện bằng dòng tế bào Jurkat.

Grafalon là chất gây độc tế bào kháng tế bào lympho người. Dữ liệu chỉ ra rằng tế bào lympho hoạt động nhạy cảm hơn.

Grafalon không kích hoạt tế bào T (thông qua CD3) hoặc tế bào lympho nhưng ức chế hoạt động của tế bào T bởi kháng thể kháng CD3.

Grafalon giảm sự di căn của khối u ác tính bằng cách liên kết với các phân tử kết dính.

Đặc tính chống kết dính (do hoạt tính kháng LFA-1 và kháng ICAM-1) có thể lý giải tại sao Grafalon làm giảm sức cản thành mạch ở mạch máu thận và làm giảm lưu giữ tế bào lympho trong thận thận khi thận lợn được tưới máu chứa tế bào lympho của người được nuôi cấy cùng hoặc không cùng Grafalon.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Grafalon dùng theo đường tiêm tĩnh mạch và do đó sinh khả dụng là 100%.

Grafalon phụ thuộc vào chuyển hóa protein giống như các protein khác của cơ thể.

Thời gian bán thải của Grafalon là khoảng 14 ngày (khi dùng liều 4 mg/kg/ngày trong hơn 7 ngày) và dao động từ 4 đến 45 ngày tùy thuộc vào liều và thời gian điều trị. Các tài liệu nghiên cứu chỉ ra rằng kháng thể đặc hiệu của tế bào T đã bị thải trừ nhanh hơn tổng IgG thỏ.

Grafalon được hấp thu nhanh và thải trừ chậm. Sự hấp thu thuốc tỉ lệ tương ứng ở tất cả các mức liều, tăng khi dùng liều lặp lại, không có sự khác biệt giới tính. Không có tương tác thuốc-thuốc với prednisolon.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Nước cất vô khuẩn.

6.2. Tương kỵ :

Không được trộn dung dịch đậm đặc để pha tiêm truyền Grafalon với glucose, máu, dẫn xuất từ máu, dung dịch chứa lipid và natri heparin.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản trong tủ lạnh (2oC-8oC). Để nguyên lọ trong hộp carton để tránh ánh sáng.

6.4. Thông tin khác :

An toàn tiền lâm sàng

Trong nghiên cứu tiền lâm sàng về độc tính, Grafalon đã được nghiên cứu với liều duy nhất trên thỏ, khỉ đuôi dài và khỉ nâu và các nghiên cứu liều lặp ở khỉ nâu. Grafalondung nạp tốt. Một số tác dụng quan sát thấy là do hoạt lực riêng của Grafalon dẫn đến ức chế miễn dịch và giảm số lượng tế bào lympho, đặc biệt là lympho T. Ở liều cao (250-300 mg/kg), phản ứng quá mẫn đã được quan sát thấy ở khỉ nâu. Dùng đồng thời với prednisolon làm giảm độc tính của Grafalon.

Không quan sát thấy bệnh huyết thanh và đã có sự cải thiện đáng kể của các biểu hiệu lâm sàng so với khi dùng Grafalon đơn độc. Không quan sát thấy tác dụng trên hệ thần kinh trung ương, hệ tim mạch hoặc hệ hô hấp trong nghiên cứu về tính an toàn trên mèo.

Không có độc tính về gen, không gây kích ứng tại chỗ và không có kháng thể kháng màng đáy cầu thận. Nghiên cứu về tính gây ung thư hoặc độc tính sinh sản chưa được thực hiện.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.