1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Aciclovir (Acyclovir).
Phân loại: Thuốc kháng virus.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): D06BB03, J05AB01, S01AD03.
Biệt dược gốc:
Biệt dược: ACYCLOVIR , ACICLOVIR
Hãng sản xuất : Công ty cổ phần XNK Y tế Domesco .
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên nén 200 mg; 400mg, 800mg
Thuốc tham khảo:
| ACYCLOVIR 200 | ||
| Mỗi viên nén bao phim có chứa: | ||
| Aciclovir | …………………………. | 200 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
Điều trị khởi đầu và dự phòng tái nhiễm virus Herpes simplex typs 1 và 2 ở da và niêm mạc, viêm não Herpes simplex.
Điều trị nhiễm virus Herpes zoster ở người lớn.
Điều trị nhiễm khởi đầu và tái phát Herpes sinh dục.
Thủy đậu xuất huyết, thủy đậu ở người suy giảm miễn dịch, thủy đậu ở trẻ sơ sinh.
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
Dạng viên: Dùng uống.
Liều dùng:
Điều trị bắt đầu càng sớm càng tốt khi có dấu hiệu và triệu chứng của bệnh.
Điều trị do nhiễm virus Herpes simplex:
Người lớn: 1 viên/lần, 5 lần 1 ngày (cách nhau 4 giờ) dùng trong 5-10 ngày.(4 viên/lần ở người suy giảm miễn dịch).
Trẻ em dưới 2 tuổi dùng liều bằng nửa liều người lớn.
Trẻ em trên 2 tuổi dùng liều bằng liều người lớn.
Điều trị do nhiễm virus Herpes simplex.
Phòng tái phát Herpes simplex cho người bệnh suy giảm miễn dịch, người nhiễm HIV, người dùng hóa liệu pháp: Mỗi lần từ 1-2 viên, ngày 4 lần.
Trẻ em dưới 2 tuổi dùng liều bằng nửa liều người lớn.
Trẻ em trên 2 tuổi dùng liều bằng liều người lớn.
Điều trị thủy đậu và Zonna.
Người lớn: 4 viên/lần x 5 lần/ngày trong 7 ngày.
Trẻ em dưới 2 tuổi: 1 viên/lần x 4 lần/ngày trong 5 ngày.
Trẻ em từ 2-5 tuổi: 2 viên/lần x 4 lần/ngày.
Trẻ em trên 6 tuổi: 4 viên/lần x 4 lần/ngày.
Bệnh nhân suy thận: liều uống /1 lần như đối với người bình thường nhưng khoảng cách uống trong ngày tùy thuộc vào độ thanh thải creatinin:
Độ thanh thải creatinin 10-25 ml/phút: Cách 8 giờ uống 1 lần.
Độ thanh thải creatinin dưới 10 ml/phút: cách 12 giờ uống 1 lần.
4.3. Chống chỉ định:
Chống chỉ định dùng cho người bệnh mẫn cảm với acyclovir, valaciclovir hay bất cứ thành phần nào của thuốc.
4.4 Thận trọng:
Thận trọng với người suy thận, liều dùng phải điều chỉnh theo độ thanh thải creatinin. Nguy cơ suy thận tăng lên nếu dùng đồng thời với các thuốc độc với thận.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Đường dùng của acyclovir có thể có liên quan đến tác dụng phụ như buồn ngủ, ngủ gà (thường gặp ở bệnh nhân dùng liều cao hoặc suy giảm chức năng thận), bạn nên chắc chắn rằng bạn không bị ảnh hưởng bởi các tác dụng phụ này trước khi lái xe hoặc vận hành máy móc.
Hiện vẫn chưa có nghiên cứu để đánh giá ảnh hưởng của acyclovir lên khả năng lái xe và vận hành máy móc. Hơn nữa, tác dụng phụ lên các hoạt động này không thể dự đoán được dựa vào tính chất dược lý của hoạt chất.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: B3
US FDA pregnancy category: B
Thời kỳ mang thai:
Việc sử dụng acyclovir chỉ nên được xem xét khi những lợi ích lớn hơn những rủi ro chưa biết. Viêm màng não do herpes simplex và viêm phổi do thủy đậu gây nguy cơ chính đáng kể cho mẹ, bào thai và herpes sinh dục, có thể làm chậm sự tăng trưởng của tử cung, làm tăng nguy cơ sinh non và nhiễm trùng herpes sơ sinh. Acyclovir dễ dàng vượt qua nhau thai và có trong máu dây rốn ở mức cao hơn so với trong huyết thanh người mẹ.
Thời kỳ cho con bú:
Sau khi uống 200mg (1 viên) acyclovir 5 lần mỗi ngày, acyclovir đã được phát hiện trong sữa mẹ ở nồng độ từ 0,6 đến 4,1 lần so với nồng độ tương ứng trong huyết tương. Những mức này có thể làm cho nồng độ thuốc ở trẻ sơ sinh bú mẹ lên đến 0,3 mg/kg/ngày. Vì vậy, cần thận trọng khi dùng acyclovir cho phụ nữ đang cho con bú..
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Quy ước dưới đây được sử dụng để phân loại các tác dụng phụ theo tần suất gặp:
Rất phổ biến (≥ 1/10), thường gặp( ≥1 / 100 và <1/10), ít gặp (≥1 / 1000 và <1/100), hiếm gặp (≥1 / 10.000 và <1 / 1.000), rất hiếm gặp (<1 / 10.000), chưa biết ( không thể dự đoán từ các dữ liệu đang có).
Rối loạn máu và hệ bạch huyết: Rất hiếm gặp: Thiếu máu, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu
Rối loạn hệ miễn dịch: Hiếm gặp: Sốc phản vệ
Rối loạn hệ thần kinh và tâm thần:
Thường gặp: đau đầu, chóng mặt
Rất hiếm gặp: Các phản ứng thần kinh có hồi phục bao gồm: kích động, bối rối, run, mất điều hòa, loạn vận ngôn, ảo giác, các triệu chứng loạn thần kinh, co giật, ngủ gà, bệnh não, hôn mê và khó chịu.
Các triệu chứng trên thường là có hồi phục và được báo cáo ở bệnh nhân dùng liều cao acyclovir (thường là tiêm tĩnh mạch) suy thận hoặc có các yếu tố ảnh hưởng khác. Acyclovir cần được dùng thận trọng ở những bệnh nhân có bất thường về thần kinh cơ.
Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất: Hiếm gặp: khó thở
Rối loạn tiêu hóa: Thường gặp: Buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đau bụng
Rối loạn ở gan:
Hiếm gặp: tăng bilirubin và men gan có hồi phục
Rất hiếm gặp: viêm gan, vàng da
Rối loạn chung: Thường gặp : Sốt, mệt mỏi
Rối loạn ở da và các mô dưới da:
Thường gặp: Ngứa, phát ban (bao gồm nhạy cảm với ánh sáng)
Ít gặp: mày đay, tăng tốc độ rụng tóc lan tỏa.
Tăng tốc độ rụng tóc lan tỏa có liên quan với một loạt các quá trình bệnh và thuốc; sự liên quan của tác dụng phụ này và việc điều trị bằng acyclovir là không chắc chắn
Hiếm gặp: phù mạch, hồng ban đa dạng, hội chứng Stevens Johnson, hoại tử biểu bì gây độc.
Rối loạn thận, tiết niệu:
Hiếm gặp: Tăng urê và creatinin máu.
Rất hiếm gặp: Suy thận cấp, đau thận.
Đau thận có thể được kết hợp với suy thận.
Chưa biết đến: Suy thận.
Suy thận là thường hồi phục nhưng có thể tiến triển đến suy thận cấp.
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Các ADR thường hiếm xảy ra và nhẹ, tự hết. Nếu các triệu chứng nặng (lú lẫn, hôn mê ở người suy thận), phải ngừng thuốc ngay Diễn biến thường tốt sau khi ngừng thuốc, ít khi phải thấm phân máu.
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Probenecid (thuốc điều trị gút) và cimetidin (thuốc điều trị loét dạ dày), các thuốc này làm tăng nồng độ của Acyclovir trong máu.
Mycophenolat mofetil (thuốc dùng cho các bệnh nhân ghép tạng): Làm tăng nồng độ trong máu của acyclovir.
Ciclosporin (thuốc ức chế miễn dịch), bác sĩ có thể cần theo dõi chức năng thận của bạn khi dùng đồng thời acyclovir với ciclosporin.
Zidovudin (thuốc điều trị HIV), dùng đồng thời zidovudin và acyclovir có thể gây trạng thái ngủ lịm và lơ mơ.
Theophyllin (thuốc điều trị hen suyễn), Acyclovir có thể làm tăng nồng độ theophyllin trong huyết thanh.
4.9 Quá liều và xử trí:
Triệu chứng: Acyclovir chỉ được hấp thu một phần trong đường tiêu hóa. Quá liều khi bệnh nhân đã uống liều đến 20g acyclovir trong một lần duy nhất, thường là không có tác dụng độc. Acyclovir uống nhiều lần liên tục có liên quan đến các ảnh hưởng về đường tiêu hóa (như buồn nôn và nôn) và các phản ứng thần kinh (như nhức đầu và nhầm lẫn).
Cách xử trí: Bệnh nhân nên được theo dõi chặt chẽ các dấu hiệu độc tính. Thẩm phân máu làm tăng đáng kể việc loại bỏ acyclovir khỏi máu và do đó có thể được coi là một lựa chọn điều trị trong trường hợp có triệu chứng quá liều.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Acyclovir (acycloguanosin) là một purin nucleosid tổng hợp, có tác dụng chống virus Herpes simplex và Varicella zoster. Để có tác dụng, acyclovir phải được phosphoryl hóa thành dạng có hoạt tính là acyclovir monophosphat nhờ enzym của virus là thymidin kinase, sau đó chuyển tiếp thành acyclovir diphosphat nhờ enzym của tế bào là guanylat kinase và cuối cùng thành acyclovir triphosphat bởi một số enzym khác của tế bào (như phosphoglycerat kinase, pyruvat kinase, phospho-enolpyruvat carboxykinase). Acyclovir triphosphat ức chế sự tổng hợp ADN của sự nhân lên của virus bằng cách ức chế enzym ADN polymerase cũng như sự gắn kết vào ADN của virus, mà không ảnh hưởng gì đến chuyển hóa của tế bào bình thường. Trong tế bào nhiễm virus Herpes, in vitro, acyclovir chỉ được các enzym tế bào (vật chủ) phosphoryl hóa với lượng tối thiểu. Acyclovir cũng được chuyển đổi thành acyclovir triphosphat bằng một số cơ chế khác vì thuốc có tác dụng đối với một số virus không có thymidin kinase (thí dụ virus Epstein-Barr, Cytomegalovirus). Các nghiên cứu in vitro cho thấy acyclovir triphosphat được sản xuất ra ở nồng độ thấp thông qua các enzym phosphoryl hóa chưa được xác định của tế bào bị nhiễm Epstein-Barr và Cytomegalovirus.
Hoạt tính kháng virus Epstein-Barr của acyclovir có thể do ADN polymerase của virus tăng nhạy cảm bị ức chế với nồng độ thấp của acyclovir triphosphat (được tạo ra do enzym tế bào phosphoryl hóa). Hoạt tính kháng Cytomegalovirus ở người có thể do ức chế tổng hợp polypeptid đặc hiệu của virus; ức chế này đòi hỏi nồng độ cao acyclovir hoặc acyclovir triphosphat in vitro.
Cơ chế tác dụng chống lại các virus nhạy cảm khác như Epstein-Barr và Cytomegalovirus vẫn chưa được rõ, cần nghiên cứu thêm. Tác dụng của acyclovir mạnh nhất trên virus Herpes simplex typ 1 (HSV-1) và kém hơn ở virus Herpes simplex typ 2 (HSV-2), virus Varicella zoster (VZV), tác dụng yếu nhất trên Epstein-Barr và Cytomegalovirus (CMV). Acyclovir không có tác dụng chống lại các virus tiềm ẩn, nhưng có vài bằng chứng cho thấy thuốc ức chế virus Herpes simplex tiềm ẩn ở giai đoạn đầu tái hoạt động. Kháng thuốc in vitro và in vivo, virus Herpes simplex kháng acyclovir tăng lên, do xuất hiện thể đột biến thiếu hụt thymidin kinase của virus, là enzym cần thiết để acyclovir chuyển thành dạng có hoạt tính. Cũng có cơ chế kháng thuốc khác là do sự thay đổi đặc tính của thymidin kinase hay giảm nhạy cảm với ADN polymerase của virus. Kháng acyclovir do thiếu hụt thymidin kinase có thể gây kháng chéo với các thuốc kháng virus khác cũng được phosphoryl hóa bởi enzym này, như brivudin, idoxuridin và gancilovir.
Virus kháng thuốc trở thành một vấn đề đối với người bệnh suy giảm miễn dịch. Đặc biệt người bệnh AIDS hay bị nhiễm virus Herpes simplex kháng acyclovir ở da, niêm mạc.
Cơ chế tác dụng:
Acyclovir là một dẫn chất purin nucleosid tổng hợp với hoạt tính ức chế in vitro và in vivo virus Herpes simplex typ 1 (HSV-1), typ 2 (HSV-2) và virus Varicella-zoster (VZV). Hoạt tính ức chế của acyclovir chọn lọc cao do ái lực của nó đối với enzym thymidin kinase (TK) được mã hóa bởi HSV và VZV. Enzym này biến đổi acyclovir thành acyclovir monophosphat, một chất tương tự nucleotid. Monophosphat được biến đổi tiếp thành diphosphat bởi guanylat kinase của tế bào và thành triphosphat bởi một số enzym tế bào. In vitro, acyclovir triphosphat làm dừng sự sao chép DNA của virus Herpes. Quá trình này xảy ra theo 3 đường:
(1) Ức chế cạnh tranh với DNA polymerase của virus.
(2) Gắn kết và kết thúc chuỗi DNA của virus.
(3) Bất hoạt DNA polymerase của virus.
Hoạt tính kháng HSV của acyclovir tốt hơn kháng VZV do quá trình phosphoryl hóa của nó hiệu quả hơn bởi enzym TK của virus.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Acyclovir hấp thu kém qua đường uống và thời gian để đạt đến nồng độ đỉnh là 1,5 đến 2 giờ. Với việc sử dụng nhiều liều, nồng độ trong huyết tương đạt được ở trạng thái ổn định vào ngày hôm sau Sinh khả dụng đường uống khoảng 13 – 21% và giảm với liều ngày càng tăng. Ở những bệnh nhân là người lớn có chức năng thận bình thường, thời gian bán thải trong huyết tương là 3,3 giờ.
Acyclovir được phân bố rộng rãi trong mô và dịch cơ thể bao gồm não, thận, phổi, gan, cơ, lá lách, tử cung, niêm mạc âm đạo, dịch tiết âm đạo, dịch não tủy. Nồng độ trong thận và phổi gấp 10 đến 13 lần so với nồng độ trong huyết tương sau khi điều trị nhiều liều, và nồng độ trong huyết tương từ 25 đến 70% đã được tìm thấy ở não, tủy sống và dịch não tủy. Liên kết protein được báo cáo là từ 9-33%. Acyclovir đi qua nhau thai và được bài tiết trong sữa mẹ với nồng độ cao gấp 3 – 4 lần so với huyết thanh người mẹ.
Acyclovir được thải trừ chủ yếu qua nước tiểu dưới dạng không đổi qua lọc cầu thận và bài tiết ống thận. Acyclovir vẫn tồn tại trong huyết tương của bệnh nhân suy thận và thời gian bán thải cuối cùng ở bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối là 19,5 giờ. Khi chức năng thận giảm, một tỷ lệ phần trăm lớn hơn của thuốc được loại bỏ bằng cách chuyển hóa thành carboxymethoxymethyl guanin.
Acyclovir dễ dàng được lấy ra bằng thẩm tách máu. Trong quá trình thẩm tách máu thời gian bán thải giảm xuống còn 5,7 giờ, với 60% liều acyclovir được lấy ra trong 6 giờ.
Dược động học của acyclovir ở trẻ em trên 1 tuổi gần tương tự như của người lớn.
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Tá dược: lactose, tinh bột mì, povidon K30, sodium starch glycolat, magnesi stearat, màu xanh patent, màu vàng quinolein.
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng
6.3. Bảo quản:
Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.
6.4. Thông tin khác :
Không có.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam