Thủy ngân nguy hiểm ra sao ? Cơ chế thuốc giải độc cấp BAL

THỦY NGÂN NGUY HIỂM RA SAO ?

Kết quả hình ảnh cho compact light bulb

Tất cả các đèn huỳnh quang , đều có chứa thủy ngân dưới dạng hơi bên trong bóng thủy tinh. Hầu hết các đèn chỉ chứa 3 tới 5 mg mỗi bóng đèn, với các bóng đèn có nhãn “thân thiện với môi trường” thường chỉ chứa 1 mg. Tất nhiên thủy ngân không thể ảnh hưởng tới sức khỏe khi bóng đèn bình thường và không vỡ. Một chiếc bóng đèn vỡ thì có thể ảnh hưởng rất ít nhưng nếu 100 chiếc, 1000 chiếc cùng vỡ cùng với nhiệt độ cao gây bốc hơi thủy ngân thì lại là một câu chuyện khác ? Trong bài này chúng ta sẽ tìm hiểu về thủy ngân và độc tính của chúng.

Kết quả hình ảnh cho compact light bulb broken

Thủy ngân là một kim loại đặc biệt, ký hiệu hóa học là Hg. Nó là kim loại duy nhất ở thể lỏng ở 0o C, màu trắng bạc, sôi ở 375o C, tỷ trọng 13,6 kg/m3 ; trọng lượng phân tử 200,61. Trạng thái oxi hóa phổ biến của nó là +1 và +2. Thời gian bán hủy của thủy ngân từ 15 – 30 năm.

Thủy ngân là kim loại dễ bay hơi, hơi thủy ngân không màu, không mùi. Hg rất dễ bay hơi vì nhiệt độ bay hơi của nó rất thấp. Ở 20o C, nồng độ bão hòa của hơi thủy ngân tới 20 mg/m3 , rất nguy hiểm.

Một m3 không khí bão hòa hơi Hg ở 20o C chứa khoảng 15mg Hg tức là gấp 1500 lần nồng độ cho phép. Ở 40o C không khí bão hòa hơi thủy ngân chứa 68mg/m3

Khi bị đổ, thủy ngân tách thành những giọt nhỏ và phân tán rộng. Những giọt nhỏ có thể bốc hơi với tốc độ nhanh hơn trong điều kiện thông gió. Tốc độ bay hơi của thủy ngân nguyên tố tăng gấp đôi khi nhiệt độ tăng 10oC.

Thủy ngân không phân hủy và tồn tại trong môi trường. Khi giải phóng vào không khí, nó tuần hoàn trong không khí, đất, và nước, tạo thành các hợp chất hóa học phức tạp và biến đổi vật lý thành các dạng khác nhau của thủy ngân.

Kết quả hình ảnh cho mercury cycle

Thủy ngân tồn tại trong tự nhiên chủ yếu dưới dạng thủy ngân nguyên tố hoặc dưới dạng sunfua và được tìm thấy trong lớp vỏ trái đất với tỷ lệ khoảng 0,5 phần triệu .Thủy ngân nguyên tố là dạng phổ biến nhất của thủy ngân trong không khí. Trong các hệ thống thủy sinh, thủy ngân được chuyển đổi thành dạng hữu cơ methyl thủy ngân, độc hơn dạng vô cơ và tích lũy sinh học trong cá và động vật hoang dã rồi vào chuỗi thức ăn..

Thủy ngân nguyên tố lỏng là ít độc nhưng hơi, các hợp chất và muối của nó là rất độc

Kết quả hình ảnh cho mercury poisoning

Ngộ độc thủy ngân là một dạng ngộ độc kim loại do tiếp xúc với thủy ngân. Các triệu chứng phụ thuộc vào loại, liều lượng, phương pháp và thời gian tiếp xúc

Hơi thủy ngân ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh trung ương và ngoại biên, phổi, thận, da, và mắt. Nó cũng ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch và gây đột biến.

Trong đó, nhiễm độc thủy ngân cấp tính thường do tai nạn như vỡ bình chứa, hỏa hoạn, hơi thủy ngân bốc lên với nồng độ cao ảnh hưởng nghiêm trọng đến hô hấp, gây viêm phế quản, viêm phổi kẽ lan tỏa. Người bị nhiễm độc thủy ngân cấp tính có thể gây viêm thận, đạm huyết tăng nhanh ( 4-5g urê/l), giảm clo huyết, nhiễm a xit. Gây viêm loét miệng, bỏng đường tiêu hóa, nôn ra máu, toàn thân suy sụp. Nạn nhân khó thở, chuột rút, giật cơ, mê sảng, bệnh nhân thường tử vong trong vòng 24 đến 36 giờ.

Ngoài ra, Thủy ngân có thể gây ung thư, biến đổi gen và gây quái thai.

Bệnh da hồng

Ngoài ra, có thể có cảm giác đau lan tỏa hay bong da bàn tay và bàn chân. Đó là do Phơi nhiễm mức độ cao với methylmercury. Phơi nhiễm Methylmercury ở trẻ em có thể dẫn đến acrodynia (bệnh da hồng) trong đó da trở nên hồng và bong tróc. Ảnh dưới đây là chứng acrodynia do nhiễm độc thủy ngân từ nhiệt kế.

Một ví dụ Điển hình về bệnh Minamata khác do ăn cá và sò nhiễm độc methyl thủy ngân tại vịnh Minamata tỉnh Kumamoto Nhật Bản làm nhiễm độc 17.000 người, chết 1.484 người và 10.626 được bồi thường (tính đến 1997). Từ năm 1976, nước ta đã công nhận bệnh nhiễm độc thủy ngân là bệnh nghề nghiệp được đền bù. (Ảnh)

Kết quả hình ảnh cho mercury poisoning

Điều trị cấp tính:

Nếu bệnh nhân nuốt phải chất độc, cần phải:

Rửa dạ dày bằng nước anbumin có bicacbonat cho người mới bị tai nạn đường miệng hoặc đã được gây nôn từ trước.

Giải độc bằng thuốc đặc hiệu:

BAL (British Anti–Lewisite) tên là dimecapto –2,3 – propanol, chất này có hai nhóm thiol (– SH) nên có ái lực với Hg, thuốc liên kết với Hg đang phong bế enzim (enzim cần thiết cho cơ thể, có nhóm thiol) và giải phóng enzim. Liều lượng sử dụng BAL như sau: Cho từ 3–4 mg/kg, tiêm bắp, cách nhau 4 giờ 1 lần trong 2 ngày đầu và tiếp tục cách 12 giờ tiêm 1 lần trong 10 ngày. Sơ đồ quá trình giải độc của BAL trong nhiễm độc cấp tính do thủy ngân như sau:

UNITION: 2 – 3 dimecaptopropansunphonat dinatri, tiêm dưới da hoặc tiêm bắp dung dịch 5% 1ml/10kg thể trọng. Ngày 1: 3 – 4 mũi, cách 6–8 giờ; Ngày 2: 2 – 3 mũi, cách 12 – 8 giờ; Ngày tiếp theo: 1 – 2 mũi trong 24 giờ.

Điều trị triệu chứng: điều trị sốc, đồng thời cho các kháng sinh để chống nhiễm khuẩn…

Điều trị nhiễm độc mạn tính:

Chưa có thuốc đặc trị nhiễm độc mãn tính. BAL chỉ tác dụng trong nhiễm độc cấp tính, không có hiệu quả trong nhiễm độc mãn tính. Nếu có triệu chứng nhiễm độc mãn tính, cần cách ly bệnh nhân, không tiếp xúc với Hg. Các thuốc có hiệu quả trong điều trị nhiễm độc mãn tính do Hg là: Penixilamin, versenat (EDTA CaNa2)…Ngoài ra cần điều trị các triệu chứng khác

 

Tài liệu tham khảo: 

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3253456/

http://www2.hcmuaf.edu.vn/data/quoctuan/Thuy%20ngan