Kết quả hình ảnh cho antidepressant drug mechanism

Cơ chế các thuốc chống trầm cảm – Tại sao lại có tác dụng giảm đau như thuốc phiện ?

[Pharmog] – Dược lý học: Vì sao các thuốc chống trầm cảm có tác dụng giảm đau không kém gì thuốc phiện?

 

[Pharmog] – Để trả lời câu hỏi này chúng ta cần phải nắm rõ một số vấn đề về sinh lý trước đã, nói một cách tóm gọn nhất nhé:

Trước hết chúng ta hãy tạm thống nhất với nhau về quan điểm này “Mọi đường dẫn truyền thần kinh đều phải có 2 phần rõ rệt để thực hiện chức năng hoàn chỉnh gồm có một đường hướng tâm (Afferent pathway) và một đường ly tâm (efferent pathway) hay ngược lại” và đường dẫn truyền cảm giác đau không ngoại lệ (Hình1).

Hình 1

Đường dẫn truyền cảm giác đau cổ điển (lateral spinal thalamic tract) mà chúng ta đều biết thực chất là một đường hướng tâm, Đường ức chế đau hướng xuống (descending pain inhibitory pathway) là một đường ly tâm. Trong 2 lộ trình thần kinh này thì đường ly tâm có nhiệm vụ điều biến (modulation) luồng thần kinh nhập tại sừng sau của tuỷ sống (dorsal horn) và có liên quan đến vấn đề giảm đau của thuốc chống trầm cảm mà bạn quan tâm.

Nói tiếp tổng quan về thuốc chống trầm cảm :

Thuốc chống trầm cảm (antidepressant) được khám phá trong thập niên 1950 và qua nhiều năm nghiên cứu và ứng dụng trong y học, trở thành một trong những loại thuốc thông dụng nhất hiện nay. Thuốc chống trầm cảm được sử dụng để điều trị rối loạn trầm cảm và một số bệnh khác.

Kết quả hình ảnh cho antidepressant drug

Hình 2

Các nhóm thuốc chống trầm cảm thường được sử dụng bao gồm: thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRIs), thuốc ức chế tái hấp thu serotonin–norepinephrine (SNRIs), thuốc chống trầm cảm ba vòng (TCAs) and thuốc ức chế enzyme monoamine oxidase (MAOIs). Ngoài ra còn một số thuốc có thể sử dụng khác…. (Hình 2)

Xem hình 3,4 – Các Monoamin não như Serotonine, Dopamine (DA) và catecholamine khác như Noradrealine (NA) được coi là có vai trò quan trọng 5 trong bệnh sinh các rối loạn trầm cảm. Khi luồng thần kinh truyền từ neuron này đến neuron khác, các amin não trong các túi tích trữ hoặc ngoài túi của neuron trước sinapse được giải phóng vào khe synapse và đến gắn vào các vị trí tiếp nhận đặc hiệu của neuron sau synapse.

Ở khe synapse: 1 phần các amin não đó bị phá huỷ bởi COMT (Catechol – O – Methyl Trasnferase) (men chuyển hoá ngoài tế bào) trong khi 1 phần được tái hấp thu trở lại nơron trước synapse và bị khử hoạt tính bởi MAO (men chuyển hoá trong tế bào).

Kết quả hình ảnh cho antidepressant drug mechanism

Hình 3

Các thuốc MAOI: ức chế quá trình dị hoá bởi MAO của các amin bị tái hấp thu trở lại nơron trước synapse làm tăng lượng amin não giải phóng trở lại khe synapse dẫn đến tăng dẫn tuyến thần kinh: tăng khí sắc…

Các thuốc chống trầm cảm 3 vòng (TCA): Có tác dụng kìm hãm neuron trước synapse tái hấp thu các amin não từ khe synapse, do đó hàm lượng monoamin ở khe synapse tăng lên, tăng gắn với vị trí tiếp nhận ở nơron sau synapse …, tăng khí sắc.

Hình ảnh có liên quan

Hình 4

SSRI: Có tác dụng ức chế tái hấp thu chọn lọc serotomin từ khe synapse.

SNRI (Selective noradrenaline reuptale inhibitor) (1994) có tác dụng ức chế tái hấp thu chọn lọc noradrenaline.

Hình 5

Cần phải nhấn mạnh rằng cách trình bày quen thuộc như Hình 1 làm cho chúng ta có cảm tường các neuron trong những lộ trình này nối trực tiếp với nhau nhưng thật ra có rất nhiều loại neuron trung gian (interneuron) trong lớp II của chất xám này (Hình 5), neurontin là một neuron trung gian mà chất dẫn truyền (neurotransmitter) của nó là enkephalin, hai neuron xanh và đỏ là của đường ức chế hướng xuống phát xuất từ vỏ não, chất dẫn truyền của chúng là serotonine & norepinephrine theo thứ tự; hai neuron này kích thích neuron tím phóng thích enkephalin.

Chính enkephalin ức chế sự dẫn truyền luồng thần kinh cảm giác đau trên sợi C sang neuron của bó lateral spinothalamic > Bây giờ thì chúng ta có thể dễ dàng hiểu được vì sao các thuốc chống trầm cảm có tác dụng giảm đau không thua gì thuốc phiện.

Kết quả hình ảnh cho reuptake mechanism

Hình 6

Các thuốc chống trầm cảm có khả năng ức chế sự tái hấp thu (reuptake –hình 6) vào nút synapse norepinephrine (thuốc chống trầm cảm 3 vòng) hay ức chế chọn lọc tái hấp thu serotonine (Sertraline chẳng hạn) hoặc ức chế tái hấp thu của cả 2 neurotransmitter này (như venlafaxin chẳng hạn). Hy vọng bạn vừa lòng với câu trả lời này.

Tài liệu tham khảo:

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2896866/

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/10086478

 

BS.Phùng Trung Hùng