Valproate (Valproic Acid) – Depakote

Thuốc Depakote là thuốc gì ? Dưới đây là nội dung tờ hướng dẫn sử dụng gốc của Thuốc Depakote (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…)

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Muối Valproate (Sodium Valproate/Valproic Acid/Magnesium Valproate)

Phân loại: Thuốc chống co giật / thuốc chống động kinh

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): N03AG01.

Biệt dược gốc: Depakine

Biệt dược: Depakote

Hãng sản xuất : Sanofi Aventis S.A.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén kháng acid dạ dày 500 mg

Thuốc tham khảo:

DEPAKOTE 500mg
Mỗi viên nén có chứa:
Valproate semisodium …………………………. 500 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Depakote chia semisodium valproat, thuộc nhóm thuốc ổn định khi sắc. Thuốc có tác dụng làm ổn định các hóa chất trong não tác động đến tâm trạng của bạn.

Depakote có thể được sử dụng để điều trị hoặc kiểm soát hưng cảm (cảm thấy phấn khích cao độ, phấn chấn, đầy năng lượng và dễ bị kích thích hoặc mất tập trung) do rối loạn lưỡng cực. Rối loạn lưỡng cực là sự thay đổi khí sắc giữa hàng cảm và trầm cảm.

Depakote Có thể được sử dụng khi lithium bị chống chỉ định hay không dung nạp.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Luôn uống Depakote đúng theo chỉ dẫn của bác sĩ. Bác sĩ sẽ quyết định liều dùng hàng ngày của bạn.

Cần hỏi lại bác sĩ hoặc dược sĩ nếu bạn không chắc về liều dùng.

Điều trị bằng Depakote phải được bắt đầu và giám sát bởi bác chuyên điều trị rối loạn lưỡng cực.

Cách dùng thuốc

Dùng đường uống

Nuốt cả viên thuốc cùng với nước. Không nghiên hoặc nhai thuốc.

Có thể uống thuốc trong lúc ăn hoặc sau khi ăn.

Nếu bạn cảm thấy hiệu quả của thuốc quá nhẹ hoặc quá mạnh, không tự ý thay đổi liều dùng, hãy hỏi bác sĩ của bạn.

Liều dùng:

Điều trị các giai đoạn hưng cảm trong rối loạn lưỡng cực:

Người lớn:

Liều hàng ngày phải được thiết lập và kiểm soát tùy theo từng cá nhân người bệnh.

Liều điều trị hàng ngày khuyến cáo để khởi đầu là 750 mg. Ngoài ra, trong các nghiên cứu lâm sàng, liều khởi đầu là 20 mg semisodium valproat cho 1 kg trọng lượng cơ thể được chứng tỏ là an toàn. Liều dùng nên được tăng càng nhanh càng tốt để đạt đến liều điều trị thấp nhất có tác động lâm sàng mong muốn. Liều dùng hàng ngày phải được điều chỉnh cho phù hợp với đáp ứng lâm sàng và thiết lập được liều thấp nhất có hiệu quả đối với từng người bệnh.

Liều trung bình hàng ngày thường thay đổi trong khoảng từ 1000 mg đến 2000 mg semisodium valproat.

Những bệnh nhân dùng liều hàng ngày cao hơn 45 mg/kg trọng lượng cơ thể phải được theo dõi cẩn thận.

Điều trị duy trì các giai đoạn hưng cảm trong rối loạn lưỡng cực phải được điều chỉnh tùy từng trường hợp một và sử dụng liều thấp nhất có hiệu quả.

Người cao tuổi:

Các tham số dược động học có sự thay đổi ở người cao tuổi (giảm thanh thải các nồng độ valproat tự do, giảm gần valproat với protein huyết tương). Vì thế cẩn thận khi quyết định tăng liều ở nhóm bệnh nhân này. Liều khởi đầu nên giảm hơn và quyết định tăng liều dựa căn bản vào sự đáp ứng lâm sàng của người bệnh.

Trẻ nhỏ và trẻ vị thành niên:

Độ an toàn và hiệu quả của Depakote trong điều trị các giai đoạn hưng cảm trong rối loạn lưỡng cực chưa được đánh giá ở đối tượng bệnh nhân dưới 18 tuổi. Vì thế thuốc này không được chỉ định dùng cho trẻ nhỏ và trẻ vị thành niên.

Người suy giảm chức năng gan, thận:

Xem thêm phần Chống chỉ định và Cảnh báo đặc biệt và thận trọng khi dùng thuốc.

Xử lý trong trường hợp quên dùng một hoặc nhiều liều thuốc:

Nếu bạn phát hiện ngay sau giờ đã được quy định hãy dùng liều lượng bình thường, Nếu bạn phát hiện trước lần phải uống liều kế tiếp một thời gian ngắn, không được uống gấp đôi liều để bù cho liều đã quên. . Nếu bạn quên dùng nhiều liều liên tiếp, hãy liên hệ ngay với bác sĩ điều trị.

Trường hợp muốn ngưng uống thuốc:

Hãy tiếp tục uống thuốc cho đến khi bác sĩ bảo bạn ngưng. Không ngưng uống Depakote chỉ bởi vì bạn cảm thấy khá hơn. Nếu ngưng thuốc, bệnh của bạn có thể tái phát. Khi bác sĩ nói bạn có thể ngưng uống Depakote, liều dùng của bạn sẽ được giảm dần. Bác sĩ sẽ giúp bạn thực hiện điều này. Nếu bạn có thắc mắc về việc sử dụng thuốc này, hãy hỏi bác sĩ hoặc dược sĩ điều trị.

4.3. Chống chỉ định:

Phụ nữ có thai hoặc phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ mà không sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả (xem thêm phần Phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú mẹ, khả năng sinh sản).

Tiền sử dị ứng với valproat hoặc bất kỳ thành phần khác của Depakote.

Viêm gan cấp tính.

Viêm gan mạn tính.

Tiền sử cá nhân hoặc gia đình có bệnh gan nặng, đặc biệt là bệnh gan do thuốc.

Rối loạn chuyển hóa porphyria.

Bệnh nhân đã biết có rối loạn chu trình chuyển hóa urê (xem phần Cảnh báo đặc biệt)

Bệnh nhân đã biết có rối loạn ti thể do đột biến gen trong nhân tế bào mã hóa cho enzym polymerase của ti thế Y (POLG).

4.4 Thận trọng:

THUỐC ĐỘC.

Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng. Để xa tầm tay trẻ em.

Hãy giữ tờ hướng dẫn sử dụng thuốc này. Bạn có thể cần đọc lại.

Nếu bạn có những thắc mắc, hãy hỏi bác sĩ hay dược sĩ.

Thuốc này được chỉ định riêng cho bạn, bạn không được đưa cho người khác dùng ngay cả khi họ có triệu chứng giống bạn, vì có thể gây hại cho họ.

Nếu bạn bị tác dụng phụ, hãy báo cho bác sĩ hoặc dược sĩ. Điều này bao gồm bất kỳ tác dụng phụ có thể có không được liệt kê trong tờ hướng dẫn sử dụng thuốc này.

CẢNH BÁO

Phần tử thuốc semisodium valproat gồm có một phân tử valproat sodium và một phân tử acid valproic theo tỷ số là 1:1.

Bởi vì thuốc Depakote được chuyển hóa thành acid valproic, nên thuốc này không được dùng phối hợp Với các thuốc chứa valproat và cùng chuyển hóa thành acid valproic, ví dụ valproat semisodium, valpromide) để tránh quá liều acid valproic.

Do khả năng gây quái thai cao và nguy cơ rối loạn phát triển thần kinh ở trẻ em phơi nhiễm valproat từ trong bụng mẹ, phải áp dụng mọi biện pháp để tránh có thai trong thời gian điều trị với Depakote.

Ở phụ nữ có dự định mang thai, phải ngừng điều trị Depakote trước khi bắt đầu có thai, và phải tiến hành mọi biện pháp để chuyển sang các điều trị thích hợp khác (không dùng thuốc và/hoặc dùng thuốc) trước khi mang thai (xem phần Phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú mẹ, khả năng sinh sản).

Nếu phát hiện có thai trong lúc đang điều trị, phải ngừng thuốc và bệnh nhân phải được thông tin đầy đủ về các nguy cơ có thể xảy ra và tiến hành giám sát chuyên khoa trước sinh để phát hiện bất cứ bất thường nào về ống thần kinh hoặc các dị dạng khác.

Phụ nữ có thai và phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ mà không sử dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả

Depakote là chống chỉ định dùng ở các đối tượng này (xem phần Phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú mẹ, khả năng sinh sản).[Pharmog]. Nhu cầu với một thuốc ổn định khí sắc phải được đánh giá lại sau khi sinh lúc sớm nhất do nguy cơ mất bù trong thời gian sau sinh.

Phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ có sử dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả

Depakote là chống chỉ định dùng ở phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ mắc rối loạn lưỡng cực có một giai đoạn hưng cảm nếu thuốc điều trị thay thế khác không có hiệu quả hoặc không được dung nạp. Vì thế thuốc này chỉ được dùng cho đối tượng này nếu:

không có thai (nghiệm pháp huyết thanh xác định có thai âm tính);

đang dùng một phương pháp tránh thai hiệu quả.

Ở những phụ nữ này, cân bằng giữa lợi ích và nguy cơ phải được đánh giá lại cẩn thận và định kỳ trong suốt liệu trình điều trị. Điều trị phải bắt buộc ngừng ngay khi đang cân nhắc có thai (hoặc nếu phát hiện là có thai).

Điều trị valproate chỉ được tiếp tục sau khi tải đánh giá lợi ích và nguy cơ bởi một bác sĩ chuyên khoa tâm thần.

Người thầy thuốc phải bảo đảm rằng người phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ này không đang có thai: tại lúc bắt đầu điều trị, tại những lần tái khám trong thời gian điều trị.

Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ bắt buộc phải sử dụng một biện pháp tránh thai có hiệu quả trong suốt thời gian điều trị. Bác sĩ cần thông báo cho bệnh nhân các nguy cơ liên quan đến việc sử dụng Depakote trong khi có thai (xem phần Phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú mẹ, khả năng sinh sản).

Bác sĩ kê đơn cần đảm bảo rằng bệnh nhân được cung cấp đầy đủ thông tin về nguy cơ khi sử dụng thuốc này. Thông tin này có thể được chuyển đến bệnh nhân dưới dạng tài liệu bỏ túi dành cho bệnh nhân giúp bệnh nhân nữ hiểu rõ hơn về nguy cơ.

Đặc biệt bác sĩ kê đơn phải đảm bảo bệnh nhân hiệu được

Đặc tính và tầm quan trọng của nguy cơ phơi nhiễm với thuốc trong thai kỳ, đặc biệt là nguy cơ gây quái thai và nguy cơ rối loạn phát triển thần kinh.

Sự cần thiết của việc sử dụng các biện pháp tránh thai có hiệu quả,

Sự cần thiết của việc tái khám định kỳ.

Sự cần thiết của việc xin ý kiến bác sĩ ngay khi bệnh nhân nữ nghi ngờ có thai hoặc có khả năng có thai.

Do có sự thay đổi rõ rệt theo từng người và đáp ứng lâm sàng, cần chú ý đặc biệt khi tăng liều (xem phần tiêu dùng).

Nếu một tình trạng quá liều xảy ra, phải theo dõi lâm sàng (cho các trường hợp có rối loạn tri giác) bởi vì toàn bộ nồng độ acid valproic trong huyết tương không chỉ điểm nồng độ thuốc tự do gây tác động lên hệ thần kinh trung ương.

Các trường hợp hôn mê đi trước bởi suy giảm tỉnh thức và có thể đi kèm với tình trạng tăng amoniac trong máu đã được báo cáo, hầu hết ở lúc bắt đầu điều trị, ở những bệnh nhân có điều trị nhiều thuốc (đặc biệt là các thuốc hướng thần). Vì thế, để giảm nguy cơ, liều khởi đầu phải được tăng dần dần (xem phần Liều dùng) và theo dõi lâm sàng trong thời gian chỉnh tăng liều.

Ở những bệnh nhân có suy thận hoặc những bệnh nhân có dùng một số thuốc (xem phần Tương tác thuốc), liều dùng phải được giảm đi.

Ở những bệnh nhân cao tuổi có tăng nguy cơ bệnh não (xem “tình trạng lẫn lộn” và “cơn bệnh” trong phần Các tác dụng không mong muốn của thuốc). Vì thế, liều khởi đầu phải được giảm đi một cách hệ thống và việc chỉnh tăng liều được thực hiện rất chậm, từ từ và thận trọng, dựa căn bản theo đáp ứng lâm sàng và trong khi đó theo dõi các dấu hiệu của sự lẫn lộn trị giác.

Bệnh gan:

Các trường hợp rất hiếm gặp tổn thương gan ở mức độ nặng hoặc đôi khi gây tử vong đã được báo cáo.

Các dấu hiệu cảnh báo:

Chẩn đoán sớm dựa vào các phát hiện lâm sàng. Đặc biệt quan trọng là cần chú ý đến hai loại biểu hiện có thể đi trước triệu chứng vàng da hoặc vàng mắt.

Ví dụ, các dấu hiệu toàn thân không đặc hiệu, thường có khởi phát đột ngột, như là mệt mỏi, chán ăn, buồn ngủ nhiều, đôi khi đi kèm với nôn ói lập lại và đau bụng, hoặc

Các biến chứng về thần kinh là các dấu hiệu của một bệnh gan nặng.

Các bệnh nhân cần được thông tin rằng phải báo cho bác sĩ điều trị khi xảy ra các triệu chứng này.

Ngoài việc thăm khám lâm sàng, phải tiến hành ngay các xét nghiệm đánh giá chức năng gan.

Phát hiện:

Phải theo dõi chức năng gan định kỳ trong 6 tháng đầu tiên của cuộc điều trị.

Thích đáng nhất trong số các xét nghiệm truyền thông là các xét nghiệm phản ánh sự tổng hợp protein, đặc biệt là PT (thời gian prothrombin). Việc xác nhận Có PT thấp bất thường, nhất là khi đi kèm với các bất thường về xét nghiệm cận lâm sàng khác (giảm rõ rệt fibrinogen và các yếu tố đông máu tăng nồng độ bilirubin và tăng các transaminase) đòi hỏi phải ngừng điều trị Depakine (và, để thận trọng, cũng ngừng dùng các dẫn suất của salicylate nếu có kê toa sử dụng đồng thời, bởi vị các thuốc này cũng dùng chung con đường chuyển hóa thuốc).

Viêm tụy:

Rất hiếm gặp viêm tụy, đôi khi có kết cục tử vong, đã được báo cáo. Điều này có thể được thấy bất kể lứa tuổi và thời gian trị liệu.

Viêm tụy với kết cục không thuận lợi nói chung được thấy ở những trẻ em nhỏ tuổi hoặc ở những bệnh nhân có bệnh động kinh nặng, tổn thương não hoặc ở bệnh nhân dùng nhiều thuốc chống động kinh.

Nếu viêm tụy xảy ra cùng với suy gan, nguy cơ tử vong gia tăng.

Trong trường hợp có đau bụng cấp hoặc có các dấu hiệu đường tiêu hóa như buồn nôn, nôn, và/hoặc chán ăn, phải cân nhắc một chẩn đoán viêm tụy và, ở những bệnh nhân có tăng các enzym tuyến tụy, phải ngừng điều trị với valproat, và tiến hành các biện pháp trị liệu thay thế cần thiết.

Nguy cơ tự tử:

Tình trạng có ý tưởng hoặc toan tính tự tử đã được báo cáo ở những bệnh nhân điều trị với các thuốc chống động kinh trong một vài chi định. Một phân tích tổng hợp dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên của thuốc chống động kinh đối chứng với giả dược cũng cho thấy tăng nhẹ nguy cơ có ý tưởng hoặc toan tính tự tử. Các nguyên nhân làm tăng nguy cơ này chưa được biết.

Vì thế, các bệnh nhân phải được giám sát chặt chẽ về bất cứ dấu hiệu nào của ý tưởng hoặc toàn tỉnh tự tử, và cân nhắc các biện pháp điều trị cho thích hợp. Bệnh nhân (hoặc những người chăm sóc) phải được khuyên nên tìm kiếm trợ giúp y khoa ngay nếu thấy xuất hiện các dấu hiệu có ý tưởng hoặc toan tính tự tử.

Bệnh nhân biết hoặc nghi ngờ có bệnh về ti thể:

Valproat có thể kích hoạt hoặc làm nặng hơn các dấu hiệu lâm sàng ở các bệnh lý tiềm tàng của ti thể gây ra do đột biến ADN ở tư thế cũng như ở gen trong nhân tế bào mã hóa cho enzym polymerase Y (POLG). Cụ thể, suy gan cấp và chết liên quan gan đi kèm với điều trị valproat có tỷ lệ cao ở những bệnh nhân có các hội chứng chuyển hóa thần kinh di truyền do đột biến POLG ở ti thể (ví dụ, hội chứng Alpers-Huttenlocher).

Các rối loạn liên quan POLG phải được nghi ngờ ở những bệnh nhân có tiền sử gia đình hoặc các triệu chứng gợi ý bệnh liên quan POLG, bao gồm nhưng không giới hạn là bệnh não không cắt nghĩa được, bệnh động kinh khó điều trị (cục bộ, giật cơ), bệnh cảnh trạng thái động kinh, chậm phát triển, trì trệ tâm thân vận động, bệnh lý sợi trục của thần kinh vận động – cảm giác, mất điều hòa động tác do tiểu não hoặc bệnh Cơ, giật nhãn cầu, hoặc đau đầu vận mạch nặng với các dấu tiền triệu ở vùng chẩm.

Phải thực hiện các thử nghiệm về đột biến POLG tùy theo thực hành lâm sàng hiện hành để đánh giá chẩn đoán các rối loạn nêu trên (xem phân Chống chỉ định)

Tương tác với các thuốc khác:

Khuyến cáo không sử dụng đồng thời thuốc này với lamotrigin và với các kháng sinh nhóm carbapenem (xem phân Tương tác thuốc). Thuốc này có chứa một chất tạo màu azo (E124) và có thể gây ra các phản ứng dị ứng.

Thận trọng khi sử dụng thuốc

Phải xét nghiệm chức năng gan trước khi bắt đầu điều trị (xem phần Chống chỉ định), và theo dõi định kỳ trong 6 tháng đầu tiên của điều trị trên những bệnh nhân có nguy cơ (xem phần Cảnh báo đặc biệt).

Có thể thấy tăng nồng độ các transaminase mức độ vừa, thoáng qua, tách biệt mà không có bất cứ dấu hiệu lâm sàng nào, đặc biệt lúc bắt đầu điều trị thuốc. Khi điều này xảy ra, khuyến cáo thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng đầy đủ hơn (cụ thể là, thời gian prothrombin), tái đánh giá liêu dùng nếu cần thiết, và lập lại các xét nghiệm tùy theo sự thay đổi của các tham số.

Các xét nghiệm máu (công thức máu, bao gồm đếm tiểu cầu, thời gian máu chảy và các tham số đông máu) được đề nghị làm trước khi bắt đầu điều trị và sau 15 ngày điều trị. Kế đó, theo dõi xét nghiệm máu được đề nghị làm nền tảng và thường quy, khi ngừng điều trị, trước khi phẫu thuật, và trong trường hợp có tụ máu hoặc chảy máu tự phát (xem phần Tác dụng không mong muôn).

Thuốc này là chống chỉ định dùng cho những bệnh nhân có tình trạng thiếu các enzym trong chu trình urê (xem phân Chống chỉ định). Một số ít trường hợp tăng amoniac Có lơ mơ hoặc hôn mê đã được mô tả ở những bệnh nhân này (xem phần Chống chỉ định).

Mặc dù các rối loạn miễn dịch gây ra bởi thuốc này được ghi nhận là trường hợp rất hiếm gặp, nhưng phải có lợi ích vượt trội hơn so với nguy cơ này khi cân nhác dùng thuốc trên những bệnh nhân mắc lupus ban đỏ hệ thống.

Bệnh nhân phải được cảnh báo về nguy cơ tăng cân trong giai đoạn bắt đầu điều trị và có biện pháp thích hợp, chủ yếu là theo chế độ ăn kiêng, để giảm thiểu tác động này.

Valproat được đào thải chủ yếu qua đường thận, một phần ở dạng các thể ceton; điều này có thể gây phản ứng dương tính giả khi xét nghiệm tìm thế ceton trong nước tiêu ở người bệnh đái tháo đường.

Bệnh nhân có thiếu enzym carnitin palmitoyl transferase (CPT) týp II phải được cảnh báo về gia tăng nguy cơ ly giải cơ vân đi kèm với uống thuốc chứa valproat.

THÔNG TIN QUAN TRỌNG VỀ MỘT SỐ THÀNH PHẦN CỦA DEPAKOTE

Thuốc có chứa các tá dược màu là “sunset yellow aluminium lake (E110) và ponceau 4R aluminium lake (E124). Các thành phần này có thể gây phản ứng dị ứng kể cả suyễn ở một số người. Bạn có nhiều khả năng bị dị ứng nếu bạn cũng dị ứng với aspirin.

Khuyến cáo không dùng alcol trong thời gian điều trị với Depakote.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Người bệnh có thể bị mất sự tập trung chủ ý khi lái xe hoặc vận hành máy móc, do nguy cơ buồn ngủ, đặc biệt ở những người sử dụng nhiều thuốc chống co giật hoặc có sử dụng thêm các thuốc khác có thể làm tăng buồn ngủ.

Nếu điều này xảy ra, không lái xe hoặc sử dụng bất kỳ công cụ hoặc máy móc nào..

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: NA

Thời kỳ mang thai:

Phân tử thuốc semisodium valproat gồm có một phân tử valproat sodium và một phân tử acid valproic theo tỷ số là 1:1. Các dữ liệu lâm sàng sau đây có từ việc sử dụng natri valproat:

*Phụ nữ có thai:

Phụ nữ có thai và phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ mà không sử dụng biện pháp tránh thai có hiệu quả

Depakote là chồng chỉ định dùng ở các phụ nữ có thai và phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ mà không sử dụng biện pháp tránh thai có hệu quả.

*Phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ có sử dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả

Depakote là chống chỉ định dùng ở phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ mắc rối loạn lưỡng cực có một giai đoạn hưng cảm nếu thuốc điều trị thay thế khác không có hiệu quả hoặc không được dung nạp. Vì thế thuốc này chỉ được dùng cho đối tượng này nếu:

không có thai nghiệm pháp huyết thanh xác định có thai âm tính);

đang dùng một phương pháp tránh thai hiệu quả.

Ở những phụ nữ này, cân bằng giữa lợi ích và nguy cơ phải được đánh giá lại cẩn thận và định kỳ trong suốt liệu trình điều trị. Điều trị phải bắt buộc ngừng ngay khi đang cân nhắc có thai (hoặc nếu phát hiện là có thai).

Người thầy thuốc phải bảo đảm rằng người phụ nữ ở lứa tuổi sinh đẻ này không đang có thai:

tại lúc bắt đầu điều trị

tại những lần tái khám trong thời gian điều trị.

Nếu có kế hoạch mang thai, phải ngừng điều trị Depakote trước khi bắt đầu có thai, cần tiến hành mọi biện pháp để chuyển sang các biện pháp điều trị khác (không dùng thuốc và/hoặc dùng thuốc) trước khi thụ thai.

*Nguy cơ phơi nhiễm trong thai kỳ liên quan đến valproat:

Việc sử dụng valproat dưới dạng đơn trị liệu hoặc đa trị liệu đều có liên quan đến một số bất thường trong thai kỳ. Các dữ liệu hiện có cho thấy nguy cơ dị dạng bẩm sinh khi sử dụng phác đồ đa trị liệu trong đó có thuốc chữa valproat lớn hơn so với đơn trị liệu bằng valproat.

*Dị dạng bẩm sinh:

Các dữ liệu thu được từ một nghiên cứu gộp (bao gồm từ nguồn dữ liệu hồ sơ bệnh án và từ các nghiên cứu thuần tập) đã chỉ ra rằng 10,73% số trẻ có mẹ mắc bệnh động kinh sử dụng valproat đơn trị liệu trong thai kỳ bị dị dạng bẩm sinh (khoảng tin cậy 95%: 8,16 – 13,29). Nguy cơ bị dị tật nặng lớn hơn so với quần thể bình thường (với tỉ lệ dị tật chiếm từ 2-3%). Nguy cơ này phụ thuộc liều nhưng liều dưới ngưỡng vẫn chưa chứng minh được là không gây hại.

Các dữ liệu hiện có cho thấy có sự tăng tỷ lệ dị tật thai nhi cả nhẹ và nặng. Loại dị dạng thường gặp nhất là dị tật đóng ống thần kinh (khoảng 2-3 %), biến dạng mặt, chẻ môi và vòm miệng, hẹp hộp sọ, dị tật tim mạch, thận và niệu sinh dục (cụ thể là tật mở lỗ tiểu bên dưới), dị tật ở chi (bao gồm bất sản xương quay hai bên) và nhiều bất thường ở các hệ thống khác nhau trong cơ thể.

*Rối loạn phát triển thần kinh:

Dữ liệu hiện có cho thấy việc phơi nhiễm với valproat từ trong bụng mẹ làm tăng nguy cơ rối loạn phát triển thần kinh ở những trẻ phơi nhiễm. Nguy cơ này xem ra phụ thuộc liều, nhưng với dữ liệu hiện có chưa xác định được liều dưới ngưỡng để không còn nguy cơ. Và thời gian có nguy cơ có thể liên quan suốt thai kỳ.

Các nghiên cứu trên trẻ ở độ tuổi mẫu giáo từng bị phơi nhiễm valproatrong tử cung người mẹ khi mang thai đã chỉ ra rằng 30 – 40% số trẻ bị chậm phát triển trong thời kỳ đầu thu chậm nói và chậm biết đi, khả năng tư duy thấp, khả năng ngôn ngữ (đọc và hiếu) nghèo nàn và có vấn đề về trí nhớ.

Chỉ số thông minh là được đo trên đối tượng trẻ em ở độ tuổi đi học (6 tuổi) đã từng bị phơi nhiễm valproat khi người mẹ mang thai thấp hơn trung bình 7-10 điểm so với nhóm trẻ từng bị phơi nhiễm Với các thuốc chống động kinh khác. Mặc dù không thể loại trừ được vai trò của các yếu tố gây nhiễu, nhưng có bằng chứng để chỉ ra rằng là thấp ở trẻ phơi nhiễm với valproat độc lập với IQ của người mę.

*Dữ liệu về kết cục lâu dài của các rối loạn này còn hạn chế.

Các dữ liệu hiện có chỉ ra rằng trẻ phơi nhiễm valproat trong tử cung người mẹ khi mang thai có gia tăng nguy cơ rối loạn phát triển lan tỏa (phố các rối loạn tự kỳ) (tăng khoảng 3 lần) và tự kỷ thời thiếu niên (tăng khoảng 5 lần) so với quần thể nghiên cứu nói chung.

Dữ liệu cho thấy trẻ em phơi nhiễm valproat trong tử cung người mẹ khi mang thai có nhiều khả năng mắc các triệu chứng của chứng rối loạn tăng động giảm tập trung (ADHD) còn hạn chế.

*Nếu phụ nữ có kế hoạch mang thai:

Phải ngừng điều trị Depakote trước khi bắt đầu có thai, và phải tiến hành mọi nỗ lực để chuyển sang các điều trị khác (không dùng thuốc và/hoặc dùng thuốc) trước khi mang thai,

Phải thông tin đầy đủ cho bệnh nhân về các nguy cơ phơi nhiễm thuốc trong khi mang thai.

Khuyên nên tư vấn trước khi mang thai.

Không được ngừng điều trị Depakote mà không có ý kiến tư vấn của bác sĩ chuyên khoa tâm thần.

*Nếu người phụ nữ phát hiện đang có thai

Phải ngừng điều trị Depakote. Trong trường hợp phơi nhiễm thuốc trong thai kỳ, người bệnh phải được thông tin đầy đủ về các nguy cơ và tiến hành giám sát chuyên khoa trước sinh để phát hiện bất cứ khiếm khuyết về ống thần kinh nào hoặc các dị dạng khác.

Nếu không điều trị một thuốc ổn định khi sắc nào trong thời gian mang thai, có thể cho điều trị Depakote trở lại sau khi sinh do nguy cơ mất bù trong thời gian sau sinh.

*Trước khi chuyển sinh

Phải thực hiện các xét nghiệm đông máu, bao gồm đếm tiền cầu, đo nồng độ fibrinogen và thời gian đông máu (thời gian hoạt hóa từng phần thromboplastin, aPTT) ở người mẹ trước khi chuyển sinh.

*Nguy cơ đối với trẻ sơ sinh

Các trường hợp xảy ra hội chứng xuất huyết rất hiếm gặp trên trẻ sơ sinh có mẹ đã từng sử dụng valproat trong thai kỳ. Hội chứng xuất huyết này liên quan đến sự thiếu hụt tiểu cầu, thiếu fibrinogen trong máu và/hoặc liên quan đến việc giảm các yếu tố đông máu khác. Tình trạng máu không có fibrinogen cũng đã được báo cáo và có thể gây nguy hiểm tính mạng. Tuy nhiên, hội chứng này cần phải được phân biệt với sự thiếu hụt vitamin K gây ra bởi phenobarbital và các chất gây cảm ứng enzym. Các kết quả xét nghiệm cầm máu bình thường ở người mẹ không thể giúp loại trừ các bất thường về cầm máu ở trẻ sơ sinh. Do đó, cần phải tiến hành các xét nghiệm huyết học như việc đếm số lượng tiêu câu, đo nồng độ fibrinogen huyết thanh, các xét nghiệm đông máu và các yếu tố đông máu khác trên trẻ sơ sinh.

Các trường hợp hạ đường huyết đã được báo cáo trên trẻ sơ sinh có mẹ từng sử dụng valproat trong ba tháng cuối của thai kỳ.

Các trường hợp thiểu năng tuyến giáp cũng đã được báo cáo trên trẻ sơ sinh có mẹ từng sử dụng valproat khi mang thai.

Hội chứng cai thuốc (như kích động, vật vã, kích thích quá mức, lo sợ, tăng động, rối loạn trương lực cơ, run cơ, co giật và rối loạn ăn uống. Có thể xảy ra trên trẻ sơ sinh có mẹ từng sử dụng valproat trong ba tháng cuối của thai kỳ.

Thời kỳ cho con bú:

Valproat được bài tiết vào sữa mẹ với nồng độ từ 1% – 10% so với nồng độ trong huyết tương của người mẹ, Các rối loạn về máu cũng đã được báo cáo trên trẻ có mẹ đang điều trị bằng valproat (xem Tác dụng không mong muốn).

Quyết định ngừng cho trẻ bú mẹ hay ngừng điều trị bằng valproat cần được cân nhắc dựa trên lợi ích của việc bú sữa mẹ của trẻ và lợi ích của việc điều trị cho người mẹ.

Khả năng sinh sản:

Mất kinh nguyệt, buồng trứng đa nang và tăng nồng độ testosteron trong máu ở phụ nữ sử dụng valproat đã được báo cáo (xem Tác dụng không mong muốn). Sử dụng valproat có thể dẫn đến suy giảm khả năng sinh sản ở nam giới (đặc biệt là, sự di chuyển của tinh trùng bị giảm) (xem Tác dụng không mong muốn). Tình trạng rối loạn chức năng sinh sản này có thể hồi phục sau khi ngừng điều trị bằng valproat.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Tần số xảy ra khi được đề cập dưới đây: Rất thường gặp (<10%); Thường gặp (≥ 1 và <10%); ít gặp (≥ 0,1 và < 1%); Hiếm gặp (≥ 0,01 và < 0,1%); Rất hiếm gặp (< 0,01%); Chưa rõ (không thể ước tính từ các dữ liệu hiện có).

Dị tật bẩm sinh và rối loạn phát triển:

Các dị dạng bẩm sinh và các rối loạn phát triển thần kinh (xem phần Phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú mẹ, khả năng sinh sản).

Rối loạn máu và hệ bạch huyết:

Thường gặp: thiếu máu, giảm tiểu cầu các trường hợp giảm tiểu cầu phụ thuộc liều thuốc dùng đã được báo cáo, được phát hiện có hệ thống và không có bất cứ ảnh hưởng nào trên lâm sàng.

Ở những bệnh nhân có giảm tiểu cầu không có triệu chứng, nếu có thể, với một mức độ giảm tiểu cầu và sự kiểm soát bệnh nhất định, đơn giản là giảm liều sử dụng của thuốc này thường sẽ khiến giải quyết được tình trạng giảm tiểu cầu này.

Ít gặp: chứng giảm toàn dòng tế bào máu, giảm bạch cầu,

Hiếm gặp: bắt sản tủy xương, hoặc bất sản hồng cầu đơn thuần, mất bạch cầu hạt, thiếu máu hồng cầu to, bệnh lý hồng cầu to.

Các xét nghiệm thăm dò:

Thường gặp: tăng cân

Hiếm gặp: giảm các yếu tố đông máu, xét nghiệm đông máu bất thường(chẳng hạn như kéo dài thời gian prothrombin, kéo dài thời gian hoạt hóa từng phần thromboplastin, kéo dài thời gian thrombin, kéo dài INR) (xem phần Thận trọng và Phụ nữ thai, Phụ nữ cho con bú mẹ, khả năng sinh sản), thiếu hụt biotin thiếu hụt enzym biotinidase..

*Bởi vì tăng cân là một yếu tố nguy cơ đối với hội chứng buồng trứng đa nang, phải giám sát cẩn thận cân nặng của bệnh nhân (Xem phần Cảnh báo đặc biệt)

Rối loạn hệ thần kinh:

Rất thường gặp: chứng run lắc.

Thường gặp: rối loạn ngoại tháp, trạng thái sững sờ”, buồn ngủ, cơn bệnh*, rối loạn trí nhớ, đau đầu, giật nhãn cầu, buồn nôn hoặc cảm giác chóng mặt.

Ít gặp: hôn mê*, bệnh não*, ngủ lịm*, chủng parkinson có khả hồi, mất điều hòa động tác, dị cảm,

Hiếm gặp: các rối loạn nhận thức với khởi phát âm thầm và tăng dần (Có thể tiến triển đến hoàn toàn mất trí) và có thể phục hồi từ một vài tuần đến một vài tháng sau khi rút bỏ điều trị.

*Các trường hợp có trạng thái sững sờ và chứng ngủ lịm, đôi khi dẫn đến vận mê thoáng qua (bệnh não) đã được thấy với valproat, thoái lui khi ngừng điều trị hoặc khi giải tiến các trường hợp này rất hay gặp trong điều trị phối hợp (nhất là với phenobarbital hoặc với topirant hoặc sau khi tăng liều valproat đột ngột.

Rối loạn ở tai và ốc tai:

Thường gặp: mất thính lực,

Rối loạn ở hệ hô hấp, trung thất, lồng ngực:

Ít gặp: tràn dịch màng phổi.

Rối loạn ở đường tiêu hóa:

Rất thường gặp: buồn nôn.

Thường gặp nôn, rối loạn ở nướu răng (chủ yếu là tăng sản nướu răng), viêm miệng, đau vùng thượng vị, tiêu chảy thường xảy ra khi bắt đầu điều trị các chứng này thường hết trong vòng một vài ngày dù không ngừng thuốc.

Ít gặp: viêm tụy có khả năng gây chết người đòi hỏi phải ngừng điều trị sớm (xem phần Cảnh báo đặc biệt)

Rối loạn ở thận và đường tiểu:

Ít gặp: suy thận.

Hiếm gặp: đái dầm, không nên tiêu được, viêm thận mô kẽ.

Rối loạn ở da và mô dưới da:

Thường gặp: rụng tóc thoáng qua có hoặc không có phụ thuộc liều thuốc dùng, rối loạn ở móng và chân để móng.

Ít gặp: phù vi mạch, các phản ứng ở da, rối loạn tóc (như kết cấu tóc mọc bất thường, thay đổi màu tóc, tóc mọc bất thường).

Hiếm gặp: hoại tử nhiễm độc ở da, hội chứng Stevens – Johnson, hồng ban đa dạng, hội chứng nổi ban do thuốc có tăng bạch cầu ái toan có triệu chứng toàn thân hoặc hội chứng quá mẫn với thuốc.

Rối loạn nội tiết:

Ít gặp: hội chứng tiết hormon kháng lợi niệu không thích hợp, cường androgen (rậm lông, nam hóa, mụn trứng cá, hói đầu kiểu nam giới, và/hoặc tăng androgen).

Hiếm gặp: giảm năng tuyến giáp (xem phần Thời kỳ mang thai và cho con bú mẹ)

Rối loạn dinh dưỡng và chuyển hóa:

Thường gặp: giảm natri máu.

Hiếm gặp: tăng amoniac máu* (xem phần Thận trọng), béo phì,

*Các trường hợp tăng amoniac máu tách biệt và mức độ vừa, không đi kèm thay đổi các tham số của gan có thể xảy ra, đặc biệt khi điều trị phối hợp nhiều thuốc, và không biện minh cho việc ngừng điều trị. Tuy nhiên, các trường hợp tăng amoniac máu đi kèm với các triệu chứng thần kinh (có thể diễn tiến đến hôn mê) đã được báo cáo, và đòi hỏi phải xét nghiệm thêm (xem phần Thận trọng).

Rối loạn tăng sinh lành tính, ác tính, không đặc hiệu (bao gồm u nang, polyp):

Hiếm gặp: hội chứng loạn sản tủy xương.

Rối loạn mạch máu:

Thường gặp: xuất huyết (xem phần Thận trọng và phần Thời kỳ mang thai và cho con bú mẹ).

Rối loạn toàn thân:

ít gặp: hạ thân nhiệt, phù ngoại biên nhẹ.

Rối loạn ở Gan-mật:

Thường gặp: bệnh gan (xem phần Cảnh báo đặc biệt).

Rối loạn ở tuyến vú và hệ sinh dục:

Thường gặp: rối loạn kinh nguyệt.

ít gặp: mất kinh nguyệt.

Hiếm gặp: ảnh hưởng lên sự sinh tinh trùng (cụ thể là giảm tính chuyển động của tinh trùng) (xem phần Khả năng sinh sản), buồng trứng đa nang.

Rối loạn ở cơ xương và mô liên kết:

Ít gặp: giảm mật độ khoáng của xương, mềm xương, loãng xương và gãy xương ở những bệnh nhân điều trị dài hạn với Depakote. Cơ chế tác động của Depakote đến chuyển hóa ở xương chưa được xác định.

Hiếm gặp: lupus ban đỏ hệ thống (xem phần Cảnh báo đặc biệt), ly giải Cờ vân (xem phần Cảnh báo đặc biệt).

Rối loạn tâm thần:

Thường gặp: trạng thái lú lẫn, ảo giác, gây hấn*, kích động*, rối loạn do thiếu sự chú ý*.

Hiếm gặp: rối loạn hành vi*, tăng động*, gặp khó khăn trong học tập*

*Những tác dụng phụ này chủ yếu được ghi nhận ở trẻ em.

Báo cáo tác dụng phụ: Nếu bạn có bất kỳ tác dụng phụ nào, ngay lập tức báo cho bác sĩ, dược sĩ, hoặc chuyên viên sức khỏe khác (ví dụ: điều dưỡng) bằng cách báo cáo tác dụng phụ, bạn sẽ giúp cải thiện kiến thức về độ an toàn của thuốc.

Báo cáo phản ứng có hại nghi ngờ: Báo cáo phản ứng có hại sau khi thuốc độc cấp phép lưu hành rất quan trọng để tiếp tục giám sát cân bằng lợi ích/nguy cơ của thuốc, Cán bộ y tế cần báo tất cả phản ứng có hại về Trung tâm Quốc gia hoặc Trung tâm Khu vực về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc..

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ðộc tính gan nặng hoặc gây tử vong có thể có trước các triệu chứng không đặc hiệu, như không khống chế được cơn co giật, người khó chịu, yếu cơ, ngủ lịm, phù mặt, chán ăn và nôn. Cần theo dõi chặt chẽ người bệnh khi thấy xuất hiện các triệu chứng này. Cần xét nghiệm chức năng gan trước khi điều trị, và định kỳ sau đó, đặc biệt trong 6 tháng đầu.

Cần tiến hành các xét nghiệm: Chức năng gan, thời gian đông máu, kết tập tiểu cầu và hàm lượng fibrinogen trước khi điều trị, sau đó 2 tháng một lần và trước khi tăng liều.

Không được bắt đầu dùng hoặc phải ngừng valproat nếu xảy ra các bất thường sau: Giảm fibrinogen huyết, rối loạn đông máu, trị số transaminase tăng gấp 3 lần, tăng phosphatase kiềm và bilirubin trong huyết thanh kèm theo các triệu chứng lâm sàng về nhiễm độc gan. Nếu chỉ thấy transaminase tăng ít, cần giảm liều và theo dõi chức năng gan và xét nghiệm đông máu. Nếu xảy ra đau bụng nặng và nôn, cần xác định amylase trong huyết thanh, nếu thấy kết quả bệnh lý, cần ngừng thuốc.

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Các phối hợp không được dùng:

Mefloquine: Ở những bệnh nhân động kinh, có nguy cơ khởi phát các cơn động kinh do mefloquine làm tăng chuyển hóa acid valproic và có tác động gây có giật.

Cỏ St. John: Có nguy cơ làm giảm nồng độ thuốc trong huyết tương và làm giảm hiệu quả chống co giật.

Các phối hợp không khuyên dùng:

Lamotrigin: Tăng nguy cơ xảy ra độc tính của lamotrigin, đặc biệt là các phản ứng nghiêm trọng ở da (hoại tử nhiễm độc ở da). Hơn nữa, có thể tăng nồng độ lamotrigin trong huyết tương (do natri valproat làm giảm chuyển hóa lamotrigin o gan). Nếu việc điều trị phối hợp được chứng tỏ là cần thiết, cần theo dõi lâm sàng kỹ lưỡng.

Các kháng sinh carbapenem: Nguy cơ xảy ra các cơn bệnh do giảm nhanh nồng độ acid valproic trong huyết tương, mà có thể không thể phát hiện được.

Các phối hợp đòi hỏi thận trọng khi sử dụng:

Astreonam: Nguy cơ xảy ra các cơn bệnh do giảm nồng độ acid valproic trong huyết tương. Theo dõi lâm sàng, làm các xét nghiệm máu và điều chỉnh liều thuốc chống co giật trong khi điều trị với thuốc kháng sinh này và sau khi ngừng thuốc kháng sinh này.

Carbamazepin: Gia tăng nồng độ các hoạt chất chuyển hóa của carbamazepin trong huyết tượng với các dấu hiệu quả liều. Ngoài ra, giảm nồng độ acid valproic trong huyết tương do carbamazepin làm tăng chuyển hóa thuốc này tại gan. Theo dõi lâm sàng, làm các xét nghiệm máu và điều chỉnh liều cả hai thuốc chống co giật này.

Felbamat: Gia tăng nồng độ acid valproic trong huyết thanh do giảm độ thanh thải của acid valproic từ 22% đến 50%, với nguy cơ xảy ra quá liều. Theo dõi lâm sàng và các tham số xét nghiệm và điều chỉnh liều của valproat trong khi điều trị với felbamat và sau khi ngừng điều trị thuốc này. Ngoài ra, acid valproic Có thể làm giảm độ thanh thải trung bình với felbamat lên tới 16%.

Phenobarbital (và ngoại suy ra cho primidon): Làm tăng nồng độ phenobarbital trong huyết thanh với các dấu hiệu quá liều, do có ức chế chuyển hóa phenobarbital tại gan, thường gặp hơn ở trẻ em. Ngoài ra, có giảm nồng độ của acid valproic trong huyết tương do phenobarbital làm tăng chuyển hóa acid valproic tại gan.

Phải theo dõi lâm sàng trong 15 ngày đầu tiên khi có điều trị phối hợp, và phải giảm liều phenobarbital ngay nếu xảy ra bất cứ dấu hiệu an thần nào cụ thể là, phải theo dõi nồng độ của cả 2 thuốc này trong huyết tương.

Phenytoin (và ngoại suy ra cho fosphenytoin): Làm thay đổi nồng độ của phenytoin trong huyết tương. Ngoài ra, có thể làm giảm nồng độ acid valproic trong huyết tương, do phenytoin làm tăng sự thoải giảng thuốc này tại gan, Theo dõi lâm sàng, làm các xét nghiệm máu và điều chỉnh liều cả hai thuốc chống co giật này.

Rifampicin: Nguy cơ xảy ra các cơn bệnh do rifampicin làm tăng chuyển hóa valproat tại gan, Theo dõi lâm sàng và theo dõi các tham số xét nghiệm, và có thể phải điều chỉnh liều thuốc chống có giật trong khi điều trị với rifampicin và sau khi ngừng thuốc kháng sinh này)

Topiramat: Có nguy cơ khởi phát tình trạng tăng amoniac máu hoặc bệnh não, nói chung được quy cho acid valproic khi sử dụng đồng thời với topiramat. Tăng giám sát lâm sàng lúc bắt đầu điều trị và giám sát các tham số xét nghiệm nếu có xảy ra các triệu chứng gợi ý do tác động này.

Zidovudin: Có nguy cơ gia tăng các tác dụng không mong muốn của zidovudin, đặc biệt là các tác động về huyết học, do acid valproic làm giảm chuyển hóa thuốc này tại gan,

Theo dõi lâm sàng đều đặn và theo dõi các tham số xét nghiệm. Phải thực hiện xét nghiệm công thức máu để kiểm tra về tình trạng thiếu máu trong thời gian hai tháng ban đầu khi điều trị phối hợp.

Các phối hợp phải chú ý:

Nimodipin (dùng đường uống, và ngoại suy ra cho dùng đường tiêm): Có nguy cơ xảy ra tác động tụt huyết áp của nimodipin do gia tăng nồng độ thuốc này trong huyết tương (acid valproic làm giảm chuyển hóa thuốc này).

Các dạng tương tác khác:

Thuốc tránh thai dùng đường uống: Bởi vì valproat không có hoạt tính gây cảm ứng enzym, nên thuốc không làm giảm hiệu quả tránh thai của các hormon estrogen-progestogen dùng đường uống.

Lithium: Depakote không có tác động gì đến nồng độ của lithium trong máu.

4.9 Quá liều và xử trí:

Các dấu hiệu ngộ độc cấp của quá liều lượng lớn thường có hôn mê yên lặng, có thể ít nhiều hôn mê sâu, có giảm trương lực cơ, giảm phản xạ gân cơ, có đồng tử, giảm hô hấp tự động và toan chuyển hóa, tụt huyết áp và sốc do trụy tim mạch.

Một số trường hợp có tăng huyết áp liên quan đến phù não đã được mô tả. Người bệnh cần được xử trí tại bệnh viện bao gồm: thụt rửa dạ dày nếu có chỉ định, duy trì.

Lợi niệu có hiệu quả, giám sát hô hấp tuần hoàn. Trong các trường hợp rất nghiêm trọng, có thể cho thực hiện lọc máu ngoài thận nếu cần.

Tiên lượng các trường hợp ngộ độc nói chung là thuận lợi. Tuy nhiên, đã báo cáo một số ít trường hợp có tử vong.

Trong biến cố quá liều, mức độ natri trong các dạng bào chế chứa valproat có thể dẫn đến tăng natri máu.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Nhóm dược lý: thuốc chống động kinh, thuốc ổn định khí sắc,

ATC Code: N03AG01.

Depakote tác động chủ yếu trên hệ thần kinh trung ương.

Cơ chế tác dụng có khả năng nhất của Depakote là tăng cường hoạt động ức chế của gamma amino butyric acid (GABA) thông qua tác động trên sự tổng hợp hoặc chuyển hoá của GABA. Hiệu quả của Depakote trong hưng cảm cấp đã được chứng minh trong hai thử nghiệm kéo dài 3 tuần, mù đôi, đối chứng giả dược được tiến hành ở những bệnh nhân rối loạn lưỡng cực. Depakote được khởi đầu ở liều 250 mg ba lần mỗi ngày và sau đó tăng lên đến liều tối đa hàng ngày không vượt quá 2500 mg; sử dụng đồng thời một benzodiazepin được cho phép trong vòng 10 ngày đầu điều trị để làm giảm các triệu chứng đi kèm như lo âu quá mức.

Các nghiên cứu dược lý đã chứng minh tác dụng này trong mô hình thí nghiệm về hành vi động vật trong cơn hưng cảm.

Cơ chế tác dụng:

Valproat gây ra các tác động dược lý chủ yếu là trên hệ thần kinh trung ương. Các tác dụng chống co giật được sử dụng để điều trị các thể co giật ở động vật và bệnh động kinh ở người.

Các nghiên cứu lâm sàng và trong phòng thí nghiệm trên Valproat gợi ý 2 loại tác động chống co giật. Thứ nhất là tác động dược lý trực tiếp liên quan đến nồng độ Valproat trong huyết thanh và trong não. Thứ hai có lẽ là tác động gián tiếp liên quan đến các chất chuyển hoá của Valproat tồn tại trong não hoặc với các thay đổi chất dẫn truyền thần kinh hoặc tác động trực tiếp trên màng tế bào. Giả thiết được công nhận rộng rãi nhất là giả thuyết về GABA, nồng độ chất này tăng sau khi dùng Valproat.

Valproat làm giảm thời gian các pha trung gian của giấc ngủ đồng thời làm tăng giác ngủ chậm.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Sau khi uống Depakote, sinh khả dụng tuyệt đối của axit valproic gần như 100%. Thời gian bán huỷ trung bình khoảng 14 giờ, nồng độ huyết tương thường ổn định trong vòng 3-4 ngày. Nồng độ đỉnh trong huyết tượng đạt được trong vòng 3-5 giờ. Sử dụng cùng thức ăn làm tăng Tmax khoảng 4 giờ nhưng không thay đổi mức độ hấp thu.

Depakote được chuyển hóa nhiều trong gan và ít hơn 3% liều dùng bài tiết qua nước tiểu. Chất chuyển hóa chính được tìm thấy trong nước tiểu là sản phẩm của axit valproic sau khi beta oxy hoá (lên đến 45% liều) và glucuronide hóa (lên đến 60% liều). Độ thanh thải huyết tương khoảng từ 0,4 đến 0,6 L giờ và không phụ thuộc vào lưu lượng máu ở gan.

Với nồng độ thuốc trong huyết tương từ 40 đến 100 mcg/ml, mức độ gắn kết protein huyết tương của Depakote khoảng 85-94%. [Pharmog]. Sự gắn kết với protein huyết tương phụ thuộc vào nồng độ thuốc và có một phần tự do không tăng tuyên tính theo nồng độ thuốc trong huyết tương.

Độ thanh thải axit valproic bị giảm ở những bệnh nhân lớn tuổi và những người có bệnh xơ gan (bao gôm xơ gan do rượu), viêm gan cấp tính hoặc suy thận. Giảm gắn kết protein và độ thanh thải đã được báo cáo. Như vậy, theo dõi nồng độ toàn phần có thể không chính xác và cần xem xét chỉnh liều dựa theo đáp ứng lâm sàng.

Chạy thận nhân tạo làm giảm nồng độ axit valproic trong huyết thanh khoảng 20%.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Thành phần dược chất: 538,2 mg semisodium valproat (tương đương 500 mg axit valproic).

Thành phần tá dược: silicon dioxide, pregelatinised starch, povidone, titan dioxide (E171), hypromellose, polyethylene glycol 6000, methacrylic axit – ethyl acrylate copolymer (1:1), triethyl citrat, vanillin, ponceau 4R aluminium lake (E124), indigotine aluminium lake (E132).

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Chưa có thông tin..

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam

Hoặc HDSD Thuốc.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM