Glyceryl Trinitrate (Nitroglycerin) – Nitrosol

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Glyceryl trinitrate (Nitroglycerin).

Phân loại: Thuốc chống đau thắt ngực, Thuốc giãn mạch.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): C01DA02, C05AE01.

Biệt dược gốc:

Biệt dược: Nitrosol

Hãng sản xuất : SGPharma Pvt. Ltd.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Dung dịch tiêm: 5 mg/ml x 5 ml.

Thuốc tham khảo:

NITROSOL
Mỗi ml dung dịch có chứa:
Nitroglycerin …………………………. 5 mg
Tá dược …………………………. vừa đủ (Xem mục 6.1)

3. Video by Pharmog:

[VIDEO DƯỢC LÝ]

————————————————

► Kịch Bản: PharmogTeam

► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog

► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/

► Group : Hội những người mê dược lý

► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/

► Website: pharmog.com

4. Ứng dụng lâm sàng:

4.1. Chỉ định:

Kiểm soát tăng huyết áp trước khi phẫu thuật như tăng huyết áp kết hợp trong các phẫu thuật sâu, đặc biệt là các phẫu thuật tim mạch như tăng huyết áp trong phẫu thuật nội khí quản, gây mê, phẫu thuật da, thủ thuật cắt xương ức, phẫu thuật tim nhân tạo và trong thời kỳ phẫu thuật trực tiếp.

Điều trị suy tim sung huyết kết hợp với nhồi máu cơ tim cấp tính.

Điều trị cơn đau thắt ngực với những bệnh nhân không có phản ứng với liều khuyến cáo của nitrat hữu cơ và/hoặc chẹn beta giao cảm, cơn đau thắt ngực và co thắt mạch vành không ổn định.

Làm giảm huyết áp trong thời gian phẫu thuật.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

NITROSOL là một dung dịch thuốc nồng độ cao, phải pha loãng trong dextrose 5% hoặc natri clorid 0,9% trước khi truyền tĩnh mạch.

Thuốc dùng đường truyền tĩnh mạch (sau khi pha loãng), không được tiêm trực tiếp vào tĩnh mạch. Dùng theo chỉ dẫn của bác sĩ điều trị.

NITROSOL không được trộn lẫn với các thuốc khác.

Hướng dẫn pha loãng:

Pha loãng lần đầu :

Pha loãng dung dịch trong ống tiêm NITROSOL với dextrose 5% hoặc natri clorid 0,9%. Nồng độ cuối cùng từ 100 đến 400mcg/ml (xem bang pha loãng). Dốc ngược chai vài lần để đảm bảo độ đồng nhất của NITROSOL.

Bảng pha loãng

Bảo quần dụng địch đã pha:

Quan trọng là cân nhấc nhu câu dịch truyền cần thiết với người bệnh tốt nhất trong thời gian truyền tối ưu để lựa chọn cách pha loãng thích hợp của NITROSOL.

Sau khi xác định chuẩn liều ban đầu, nồng độ của dung địch có thể tăng, nếu cần thiết, hạn chế lượng dung dịch truyền cho người bệnh.

Nồng độ của dịch truyền không được vượt quá 400mcg/ml Nitroglycerin, dốc ngược chai vài lần để đảm bảo độ đồng nhất của Nitroglycerin.

Khi bảo quản trong chai thuỷ tinh, tính chất sinh lý và hoá học của dung dịch pha loãng tương đối ổn định trong vòng 40 giờ khi bảo quần ở nhiệt độ phòng và tới bẩy ngày trong điểu kiện bảo quản lạnh.

Tuy nhiên, để ngăn ngừa nguy cơ nhiễm khuẩn nên bắt đầu sử dụng càng sớm càng tốt ngay khi có thể sau khi chuẩn bị dịch truyền.

Dịch truyền tốt nhất trong vòng 24 giờ và lượng thừa nên bỏ đi.

Liều bị ảnh hưởng bởi loại chai chứa và cách bảo quản để sử dụng. Nếu nông độ bị thay đổi, cần phải ngưng truyền hoặc thay thế dịch truyền, trước khi hàm hượng mới có được tác dụng. Nếu đường truyền cũ không được ngưng hoặc thay thế, nó có thể giữ vài phút đến vài giờ, quyết định trước khi hết thuốc trong tuần hoàn và khoảng thời gian nghỉ, thay thế trước khi đạt nồng độ mới cho người bệnh.

Liều dùng:

Cần dùng liệu pháp liễu thấp ban đầu để tránh làm giảm huyết áp quá mức (huyết áp tâm thu < 90 mmHg): 5 mcg/phút được tăng lên từ 5 – 20 mcg/phút cách 5 — 10 phút/lần, tối đa 200 mcg/phút cho đến khi huyết áp trung bình giảm 10% ở người huyết áp bình thường và giảm 30% ở người tăng huyết áp nhẹ; tiêm truyền duy trì trong 24 giờ hoặc lâu hơn.

Khi liều 200 mcg/phút không làm hạ huyết áp, phải ngừng truyển vì có kháng nitrat. Sau giai đoạn cấp, có thể dùng glyceryl trinitrat uống, điều chỉnh liều để giảm huyết áp vào khoảng 10% trong 6 tuần hoặc dùng thuốc dán xuyên da (ngừng dùng ban đêm).

Tính an toàn và hiệu quả của Nitroglycerin ở trẻ em vẫn chưa được thiết lập. Không khuyến cáo dùng cho trẻ nhỏ.

Nói chung nên giảm liều ở người già vì người già dễ bị giảm huyết áp và đau đầu.

4.3. Chống chỉ định:

NITROSOL, không được sử dụng trong các trường hợp sau:

Phản ứng quá mẫn với Nitroglyeerin hoặc có phản ứng dị ứng với nitrat hữu cơ.

Hạ huyết áp hoặc dung lượng máu không ổn định, vì khi sử dụng thuốc có thể gây tụt huyết áp nghiêm trọng hoặc sốc.

Tăng áp lực sọ não (chấn thương đầu hoặc xuất huyết não).

Thiểu năng tuần hoàn não.

Viêm màng ngoài tim thất và hiện tượng chèn ép màng ngoài tim (đặt tămpông)

Thiếu máu nặng và giảm oxy động mạch.

Đang dùng sildenafil.

4.4 Thận trọng:

NITROSOL phải được sử dụng một cách thận trọng trên những bệnh nhân suy giảm chức năng gan thận. Loạn nhịp và tăng cơn đau thắt ngực là những triệu chứng có thể đi kèm với tác dụng hạ huyết áp của Nitroglycerin.

Lệ thuộc vào nitrat là một vấn đề nguy hiểm tiềm tàng. Tử vong, nhồi máu cơ tim, co thắt mạch vành và hội chứng đau ngực đã được ghi nhận. Có một số bằng chứng về sự lệ thuộc vào nitrat ở bệnh nhân cả đau thất ngực và suy tim sung huyết. Tuy vậy hội chứng cai nghiện không xuất hiện khi truyền tĩnh mạch Nitroglycerin dưới 9 ngày, nếu cần thiết có thể giảm liều điều trị cho những bệnh nhân bị xơ vữa động mạch vành những người đã phải điều trị liều cao kéo dài. Thiếu máu sắc tố đã được ghi nhận trong những điểu trị kết hợp của Nitroglycerin. Thiếu máu sắc tố có thể có ý nghĩa đặc biệt về phương diện lâm sàng trong bệnh thiếu men khử reduetase hoặc các bệnh thiếu máu bẩm sinh khác.

Khi dùng thuốc, phải tăng liều từ từ để tránh nguy cơ hạ huyết áp thế đứng và đau đầu ở một số bệnh nhân; nên ngồi hoặc nằm sau khi dùng thuốc. Khi dùng liều cao, không nên giảm thuốc đột ngột.

Không nên chỉ định dùng NITROSOL cho trẻ em, do chuyển hoá ở trẻ em chưa hoàn thiện có thể ảnh hưởng tới độ an toàn và hiệu lực của thuốc.

Chú ý:

Nitroglycerin dễ bị biến tính trong nhiễu loại chất dẻo. Phải tránh sự hấp thu của Nitroglycerin vào dụng cụ chứa dung dịch bằng chất đẻo, khi pha NITROSOL phải dùng chai thủy tinh.

Một số loại màng lọc hấp thu Nitroglycerin; tránh sử dụng những loại này.

40% tới 80% lượng Nitroglycerin trong dịch truyền pha loãng cuối cùng bị hấp thu bởi ống truyền bằng PVC là loại dây truyền dịch phổ biến hiện nay. Tỷ lệ hấp thu cao hơn khi: nhịp truyền thấp, nổng độ Nitroglycerin trong ống cao và ống dài. Mặc dù tỷ lệ hấp thu cao nhất trong giai đoạn đầu của quá trình truyền (khi tốc độ nhỏ giọt thấp nhất) sự hấp thu là liên tục không có giới hạn nhất định, do đó, việc tính toán hoặc hiệu chỉnh liều là không đơn giản để có thể thay đổi nhịp độ truyền lý thuyết (được tính theo nồng độ dịch truyền) cho tốc độ truyển hiện thời. Do đó, nên sử đụng loại ống có độ hấp thu tối thiểu sẵn có (ví dụ loại ống không chế tạo từ PVC) cho việc truyền NITROSOL.

Khả năng an toàn có được với việc sử dụng một số loại bơm và dây truyền dịch không làm bằng PVC. Do loại ống đặc biệt ngăn được sự hấp thu của Nitroglycerin (ống Non-PVC) thường ít mềm dẻo so với loại ống PVC thông thường, bơm có thể hỏng làm tắc đường truyền. Kết quả là làm tắc nghẽn đường truyền, làm chậm tốc độ truyền, do rối loạn sự chảy khi bơm bị ngừng; quan trọng là phải giữ được đường truyền thông suốt của Nitroglycerin. Tất cả dụng cụ truyền phải được kiểm tra để chắc chắn rằng chúng có thể đảm bảo có thể kiểm soát được quá trình truyền dịch.

Nhồi máu cơ tim nặng: NITROSOL chỉ được sử dụng trong nhồi máu cơ tim cấp tính có chẩn đoán suy thất trái. Phải theo đối cẩn thận các chỉ số máu trong quá trình truyền Nitroglycerin đối với những bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp để phòng sự tụt huyết áp đột ngột của huyết áp động mạch và phần ứng tăng nhịp tim, có thể do sự giảm dung lượng động mạch vành và tăng nhu cầu oxy của cơ tìm, kéo dài tình trạng tổn thương mô do thiếu máu cục bộ.

Hạ huyết áp: Chỉ định liều phải được xác định thận trọng do nguy cơ nghiêm trọng của phản ứng hạ huyết áp thế đứng, thường xảy ra ở những bệnh nhân suy động mạch vành hoặc xơ vữa mạch máu não. Phản ứng tụt huyết áp đã được ghi nhận với dạng thuốc đặt dưới lưỡi, thuốc dùng ngoài da và đường tĩnh mạch.

Sự hạ huyết áp quá mức, đặc biệt là trong thời gian kéo dài phải được phòng ngừa bằng cách loại trừ các nguy cơ do sự suy giảm chức năng của não, tim, gan và thận kèm theo nguy cơ của thiếu máu, đông máu và sự thay đổi chức năng các cơ quan đó. Tác dụng giãn mạch trên bệnh nhân tăng huyết áp không rõ ràng. Nếu áp lực động mạch phổi được kiểm soát, là do ảnh hưởng của sự hạ huyết áp động mạch do vậy thuốc an toàn với sự giảm áp lực mao mạch phổi.

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Nitroglycerin, đặc biệt ở giai đoạn khởi đầu điều trị, có thể làm suy giảm khả năng lái xe và vận hành máy móc. Cần phải cảnh báo thận trọng với những đối tượng này.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: B2

US FDA pregnancy category: C

Thời kỳ mang thai:

Chưa được nghiên cứu trên phụ nữ có thai. Nitrosol chỉ nên sử dụng trên phụ nữ có thai nếu thật sự cần thiết.

Thời kỳ cho con bú:

Nitroglycerin chưa rõ có bài tiết qua tuyến sữa, chú ý, chỉ dùng thuốc khi thật cần thiết.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Giãn mạch ngoại vị làm da bừng đồ nhất là ở ngực và mặt; giãn các mạch trong mắt dễ gây tăng tiết dịch và làm tăng nhãn áp; giãn các mạch trong não có thể gây tăng áp lực nội sọ và làm đau đầu.

Hạ huyết áp thế đứng, choáng váng, chóng mặt hay xảy ra khi dùng thuốc cho những người bệnh có huyết áp đã thấp, người cao tuổi.

Có thể có nổi ban, viêm da tróc vẩy, rối lọan tiêu hóa,.

Với liều cao điều trị có thể có methemoglobin máu.

Thường gặp: đau đầu, chóng mặt, tim đập nhanh, hạ huyết áp, đỏ ửng da.

Hiếm gặp: ngất, tím tái, methemmoglobin huyết, mất vị giác, tìm đập nhanh, buồn nôn, nôn, hồi hộp, mất ngủ, co cơ, tức ngực, đánh trống ngực, hoa mắt và đau bụng.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Hạ huyết áp, ngất được xử lý bằng cách để bệnh nhân nằm nghiêng, đầu thấp. Thuốc tăng huyết áp có thể dùng trong hạ huyết áp nặng. Trường hợp ngộ độc có thể dùng oxy và hỗ trợ hô hấp đồng thời truyền điện giải để tăng thể tích tuần hoàn. Nếu bị methemoglobin, truyền tĩnh mạch methylthionin clorid

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Alcohol: Dạng thuốc kèm với chất có cồn có thể gây hạ huyết áp do tác dụng giãn mạch của Nitroglycerin,

Các loại thuốc khác: Thông tin về sự tương tác của Nitroglycerin với các thuốc khác rất ít được ghi nhận. Chú ý, khi sử dụng các thuốc khác đồng thời với việc truyền tĩnh mạch NITROSOL có thể làm thay đổi các thông số máu. Cần phải theo dõi chặt chẽ các thông số máu.

Các thuốc kích thích thần kinh trung ương: Truyền Nitroglycerin làm tăng đáp ứng của hệ thần kinh thực vật. Quan sát trên lâm sàng đã được ghi nhận trong các nghiên cứu trên mèo, tuy nhiên đáp ứng của thân kinh thực vật gây ra bởi Succinylcholine và dtubocurarine bị kéo dài bởi Nitroglycerin. Cơ chế tương tác chưa được biết đến.

Morphin: Mỗi bệnh nhân được truyền tĩnh mạch morphin sulphat với liều 3mg trong 24 giờ khi đang điều trị Nitroglycerin sẽ dẫn tới hôn mê, thậm chí là cả với Nalorphin. Có thể đo Nitroglycerin truyễn tĩnh mạch làm chậm chuyển hoá morphin. Nên thận trọng nếu sử dụng đồng thời cả hai thuốc.

Thuốc chống trầm cảm 3 vòng, kháng cholinergic: Nên thận trọng nếu phải dùng đồng thời thuốc chống trầm cảm 3 vòng và kháng cholinergic với NITROSOL vì các tác nhân này có thể làm tăng tác dụng hạ huyết áp của Nitroglycerin.

4.9 Quá liều và xử trí:

Quá liều:

Tai biến do quá liểu NITROSOL có thể là kết quả của sự hạ huyết áp đột ngột và làm chậm nhịp tim có thể xử lý bằng cách nâng cao hai chân và giảm hoặc ngừng truyền cho tới khi tình trạng bệnh nhân ổn định trở lại. Trong quá trình truyền các chỉ số tìm có thể thay đổi nhẹ, không đáng kể. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân phải phẫu thuật thì sự kiểm soát trên tĩnh mạch của hệ alpha adrenergic (Methoxamin hoặc Phenylephrin) cần phải được xem xét. Sự truyền huyết tương hoặc dung dịch điện giải phù hợp cũng cần được cân nhắc.

Cách xử trí:

Nhìn chung, phải điều trị hỗ trợ và triệu chứng. Khi chẩn đoán methemoglobin huyết được xác định, điều trị lựa chọn là xanh methylen, truyền tĩnh mạch 1-2 mg/kg.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Nitroglycerin là một nitrat hữu cơ có tác dụng giãn mạch. Tác dụng dược lý chủ yếu làgiãn cơ trơn thành mạch, ở liễu điều trị làm giãn cơ động mạch và tĩnh mạch. Giãn tất cả các mạch máu, làm giảm máu trở về và thể tích tâm thất, giảm sức cẩn ngoại vi và lưu lượng tâm thu, giảm lượng máu tĩnh mạch trở về tim, giảm huyết áp thất trái cuối tâm trương (tiền gánh). Làm hạ huyết áp động mạch (hậu gánh). Giảm tiêu thụ oxy hoặc nhu cầu oxy của tim (như điều hoà nhịp tim, giảm công năng tim) do tác dụng giãn cả động mạch và tĩnh mạch của Nitroglycerin và tạo được tỷ lệ cung cấp có lợi hơn cho việc đáp ứng nhu cầu oxy.

Nitroglycerin tiêm tĩnh mạch ở liều điều trị làm giảm cả huyết áp tâm trương, tâm thu và huyết áp động mạch. Có hiệu lực làm giãn mạch vành, chống cơn đau thắt ngực thông thường, nhưng có thể đồng thời làm tụt huyết áp hoặc tăng nhịp tim, giảm thể tích tâm trương.

Nitroglycerin gây giãn các nh mạch chính và cơ trơn khí quản, làm giảm sức cản của mao mạch khí quản và giãn mạch toàn thân. Nhịp tim có thể tăng nhẹ, có thể gây hạ huyết áp phản xạ, các thông số của tim có thể tăng, giảm hoặc không thay đổi.

Cơ chế tác dụng:

Nitroglycerin tác động lên các thành phần cơ trơn của thành mạch máu, làm dãn nở các tĩnh mạch ngoại biên và mức độ kém hơn các động mạch và mạch vành. Do tác dụng làm dãn nở tĩnh mạch, dung tích tĩnh mạch tăng, trong khi lượng máu về tĩnh mạch, thể tích tâm thất trái, áp lực cuối kỳ tâm trương và tiền tải đều giảm. Vì các động mạch nhỏ dãn nở nên lực cản ngoại biên giảm và hậu tải cũng giảm. Tất cả các tác dụng này dẫn đến tim làm việc bớt đi và nhu cầu về oxy thấp hơn.

Nitroglycerin làm dãn nở các động mạch vành dưới màng ngoài tim và làm giảm co thắt mạch vành. Qua các tác dụng này và do tiền tải giảm, lưu lượng máu đến tim đều hơn, sự tuần hoàn bàng hệ cùng với sự tưới máu cho các vùng thiếu máu cục bộ và vùng dưới màng trong tim được cải thiện. Dưới tác dụng của nitroglycerin, hiệu suất của tim và sự dung nạp vận động được gia tăng.

Tác dụng của nitroglycerin trên mạch máu dựa vào sự tạo lập nitrogen oxide. Nitroglycerin và các chất chuyển hoá có hoạt tính của nó được chuyển đổi sinh học trong thành mạch để cho ra nitrogen oxide (NO), một hợp chất giống hệt với yếu tố làm giảm căng nội mô nội sinh. Bằng cách hoạt hóa guanylate-cyclase và làm tăng tạo lập GMP vòng. Do ngăn các ion canxi đi vào tế bào, và tăng thải trừ ion canxi ra khỏi tế bào, sự tích tụ của cGMP làm giảm nồng độ ion canxi trong các thành phần cơ trơn của thành mạch, hậu quả là làm dãn thành phần cơ trơn của mạch máu, nghĩa là gây dãn mạch máu. Các tác dụng dãn mạch của nitroglycerin đều xảy ra ở cả nội mô nguyên vẹn lẫn bị tổn thương.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Nitroglycerin phân bố rộng trong cơ thể, thể tích phân bố tới 200 lít ở nam giới trưởng thành. Chuyển hoá nhanh trong cơ thể thành dạng dinitrat và mononitrat, t1/2 chuyển hoá khoảng 1-4 phút. Do đó hàm lượng trong huyết tương thấp sau khi truyền tĩnh mạch. Hàm lượng trong huyết tương khoảng 50-500mg/ml, liên kết với protein huyết tương khoảng 60% chủ yếu ở dạng chuyển hoá 1,3-glyceridinitrat và 1,3-glyceridinitrat với hàm lượng khoảng 60% và 30% tương ứng. Dạng hoạt động và chuyển hoá trung gian của diniroglycerin là không đặc trưng. Glyceril mononitrat, dạng chuyển hoá chủ yếu là không hoạt động.

5.3 Giải thích:

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

5.4 Thay thế thuốc :

Chưa có thông tin. Đang cập nhật.

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

 

6.2. Tương kỵ :

Có báo cáo glycerin trinitrat tương kỵ với phenytoin, alteplase và levofloxacin. Glycerin trinitrat tương kỵ với đồ đựng bằng PVC.

6.3. Bảo quản:

Bảo quản ở nhiệt độ dưới 30°C, tránh ánh sáng. Không bảo quản lạnh.

Khi bảo quần trong chai thủy tỉnh, tính chất sinh lý và hóa học của dung dịch pha loãng tương đối ổn định trong vòng 40 giờ, khi bảo quản ở nhiệt độ dưới 30°C và tới bảy ngày trong điều kiện bảo quản lạnh.

Tuy nhiên, để ngăn ngừa nguy cơ nhiễm khuẩn nên bắt đầu sử dụng càng sớm càng tốt ngay khi có thể sau khi chuẩn bị địch truyền.

Dịch truyền tốt nhất trong vòng 24 giờ và lượng thừa nên bỏ đi.

Dung dịch vô khuẩn. Không sử dụng ống tiêm lại.

6.4. Thông tin khác :

Không có.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Dược Thư Quốc Gia Việt Nam