1. Tên hoạt chất và biệt dược:
Hoạt chất : Estriol
Phân loại: Thuốc tác động trên hệ nội tiết Estrogens.
Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)
Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): G03CA04, G03CC06.
Biệt dược gốc:
Biệt dược: Eskdiol
Hãng sản xuất : Công ty cổ phần dược phẩm Sao Kim
2. Dạng bào chế – Hàm lượng:
Dạng thuốc và hàm lượng
Viên đặt : 0,5 mg.
Hộp 3 vỉ x 5 viên đạn đặt âm đạo
Thuốc tham khảo:
| ESKDIOL | ||
| Mỗi viên đặt âm đạo có chứa: | ||
| Estriol | …………………………. | 0,5 mg |
| Tá dược | …………………………. | vừa đủ (Xem mục 6.1) |

3. Video by Pharmog:
[VIDEO DƯỢC LÝ]
————————————————
► Kịch Bản: PharmogTeam
► Youtube: https://www.youtube.com/c/pharmog
► Facebook: https://www.facebook.com/pharmog/
► Group : Hội những người mê dược lý
► Instagram : https://www.instagram.com/pharmogvn/
► Website: pharmog.com
4. Ứng dụng lâm sàng:
4.1. Chỉ định:
ESKADIOL được chỉ định điều trị trong trường hợp khó chịu âm hộ – âm đạo do thiếu oestrogen trong thời kỳ mãn kinh và sau tiền mãn kinh hoặc cắt bỏ buồng trứng:
Teo âm đạo.
Ngứa âm hộ.
Giao hợp đau do teo âm hộ – âm đạo.
Hỗ trợ điều trị nhiễm khuẩn âm đạo.
Điều trị trước khi phẫu thuật âm hộ – âm đạo và trong thời gian nghi dưỡng tiếp theo.
Loét trong trường hợp sa tử cung hoặc âm đạo.
Để tránh sai sót trong xét nghiệm phết tế bào
4.2. Liều dùng – Cách dùng:
Cách dùng :
ESKDIOL được đặt âm đạo vào buổi tối:
Bóc viên thuốc ra khỏi vỉ.
Nằm xuống hoặc ngả lưng ra sau, đặt viên thuốc vào sâu trong âm đạo
Cố gắng sử dụng đúng liều của thuốc.
Nếu 1 lần quên không dùng thuốc, bệnh nhân nên dùng thuốc ngay sau khi nhớ ra và dùng liều tiếp theo theo lịch trình bình thường. Nếu sang ngày hôm sau thì bỏ qua liều đã quên và dùng liều tiếp theo theo lịch trình, không dùng hai liều Eskdiol trong 1 ngày
ở phụ nữ không dùng HRT hoặc dùng HRT liên tục chuyển sang dùng Eskdiol thì có thể được bắt đầu vào bất cứ ngày nào. ở phụ nữ dùng HRT theo chu kỳ khi chuyển sang dùng Eskdiol thì nên bắt đầu dùng sau khi kết thúc chu kỳ 1 tuần
Liều dùng:
Để điều trị triệu chứng sau mãn kinh nên dùng liều thấp nhất trong thời gian ngắn nhất.
Liều thường dùng để điều trị trường hợp khó chịu âm hộ – âm đạo do mãn kinh: 1 viên/ngày trong 2 – 3 tuần đầu. Liều duy trì: 1 viên mỗi 1 – 2 tuần, dừng điều trị 4 tuần sau mỗi đợt điều trị 2 – 3 tháng.
Điều trị trước khi phẫu thuật âm hộ – âm đạo: đặt một viên Eskdiol mỗi ngày, 2 tuần trước khi phẫu thuật.
Trong trường hợp xét nghiệm phết tế bào có nghi nghờ kết quả: dùng 1 viên Eskdiol mỗi ngày trong 7 ngày trước khi làm lại xét nghiệm tế bào.
4.3. Chống chỉ định:
Đang mang thai hoặc nghi ngờ có thai.
Bị ung thư vú hoặc đang nghi ngờ bị ung thư vú.
Bị ung thư hoặc đang nghi ngờ bị ung thư phụ thuộc estrogen như ung thư biểu mô nội mạc tử cung .
Chảy máu âm đạo bất thường mà chưa được bác sĩ khám.
Đã từng có hoặc đang cục máu đông (huyết khối tĩnh mạch cẳng chân (hyết khối tĩnh mạch sâu) hoặc phổi (thuyên tắc phổi).
Có rối loạn huyết khối (ví dụ thiếu protein C, protein S, hoặc chất chống đông).
Có tiền sử thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch tái phát (VTE) hoặc bệnh ưa huyết khối ở các bệnh nhân không được điều trị bằng thuốc chống đông.
Đang bị huyết khối động mạch hoặc gần đây (ví dụ đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim)
Bị bệnh gan gan hoặc không nhưng test đánh giá chức năng gan không trở về bình thường.
Bị dị ứng với estriol hoặc bất kì thành phần nào của thuốc Eskdiol
Có bệnh máu hiếm gặp gọi là bệnh rối loạn chuyển hóa phorphyrin.
4.4 Thận trọng:
Đối với việc điều trị các triệu chứng mãn kinh, liệu pháp thay thế hormone (HRT) chỉ nên được bắt đầu khi các triệu chứng ảnh hưởng xấu tới chất lượng cuộc sống. Trong mọi trường hợp, cần đánh giá cẩn thận về những rủi ro và lợi ích thu được khi dùng HRT và nên thực hiện ít nhất mỗi năm một lần vả HRT chỉ nên dùng tiếp khi lợi ích vượt quá nguy cơ.
Kiểm tra y tế trong các trường hợp sau:
Trước khi bắt đầu hoặc đang điều trị (HRT), phải hỏi kỹ tiền sử gia đinh và bản thân đồng thời kiểm tra chung và phụ khoa kỹ lưỡng. Kiểm tra thực thể (bao gồm cả vùng chậu và vú) để xem có nằm trong các chống chỉ định và thận trọng khi sử dụng không. Trong thời gian điều trị, cần kiểm tra sức khỏe định kỳ để xem tinh thích nghi VỚI từng phụ nữ. Phụ nữ cần được tư vấn nhận biết những thay đổi trên vú cùa họ để báo cho bác sĩ hoặc hoặc y tá của mình (xem phần ung thư vú dưới đây). Thăm dò, bao gồm cả công cụ hlnh ảnh thích hợp ví dụ chụp X quang vú, nên được thực hiện để xem việc điều trị có phù hợp và thay đổi theo đáp ứng lâm sàng của từng bệnh nhân
Các trường hợp cần giám sát:
Neu có bất kỳ các trường hợp sau đây dù là hiện tại, hay đã xảy ra trước đây và/hoặc trầm trọng hơn trong khi mang thai hoặc điều trị nội tiết tố trước đó, lợi ích của việc điều trị cần được cân nhắc với những rủi ro có thể đem lại. Trong những trường hợp này bệnh nhân cần được giám sát chặt chẽ. Trong những trường hợp hiếm hoi, bệnh có thể tai phát hoặc trầm trọng hơn khi điều trị với Eskadiol:
U xơ tử cung (dạ con)
Lạc nội mạc tử cung
Cục máu đông trong máu (huyết khối, huyết khối tĩnh mạch sâu, thuyên tắc phổi) hoặc có nguy cơ tăng phát triển tình trạng này.
Nếu trong gia đình bạn có ai đã từng bị ung thư phụ thuộc estrogen, chẳng hạn có một người thân bị ung thư vú hoặc ung thư nội mạc tử cung
Huyết áp cao
Bệnh tim
Bệnh gan
Bệnh thận
Bệnh tiểu đường
Sỏi mật
Đau nửa đầu hay đau đầu (nặng)
Lupus ban đỏ hệ thống (SLE, một rối loạn miễn dịch ảnh hưởng đến da và các cơ quan khác)
Tăng sản nội mạc tử cung (dày lên của lớp niêm mạc của tử cung)
Động kinh
Hen
Bệnh xơ cứng tai (điếc bẩm sinh).
Các trường hợp dừng điều trị ngay lập tức:
Việc điều trị nên bị dừng trong trường hợp chống chỉ định được phát hiện và trong các tình huống sau đây:
Vàng da (da của bạn chuyển sang màu vàng)
Tăng huyết áp đột ngột
đây là lần đầu tiên bị đau nửa đầu, hay đau đầu nghiêm trọng.
Mang thai.
Tăng sản nội mạc tử cung và ung thư biểu mô:
Để ngăn chặn kích thích nội mạc tử cung, liều hàng ngày không nên vượt quá 1 viên (0,5 mg oestrioỉ), cũng không sử dụng liều tối đa này lâu hơn vài tuần. Một nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra rằng việc điều trị lâu dài với liều thấp của estriol đường uống, không phải estriol âm đạo, có thể làm tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung. Nguy cơ này tăng lên với thời gian điều trị và biến mất trong vòng một năm sau khi chấm dứt điều trị. Nguy cơ tăng chủ yếu là liên quan đến khối u rất khác biệt và ít xâm lấn. Luôn thăm dò chảy máu âm đạo do thuốc. Bệnh nhân cần thông báo cho bác sĩ nếu chảy máu âm đạo xảy ra
Ung thư vú:
HRT có thể làm tăng mật độ X quang vú. Điều này có thể làm phức tạp việc chần đoán bằng tia X trong ung thư vú. Các nghiên cứu lâm sàng ghi nhận rằng khả năng làm tăng mật độ X quang vú thấp hơn trong các bệnh nhân được điều trị bằng estriol so với các bệnh nhân được điều trị bằng estrogen khác.
Một thử nghiêm đối chứng giả dược, ngẫu nhiên, nghiên cứu WHI (the Women’s Health Initiative ), và các nghiên cứu dịch tễ học, bao gồm nghiên cứu triệu phụ nữ (MWS), đã ghi nhận có gia tăng nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ dùng estrogen, kết hợp estrogen và progestagen hoặc tibolone là liệu pháp điều trị thay thế trong nhiều năm (xem TAC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN). Đối với tất cả HRT, nguy cơ thừa hormone trở nên rõ ràng trong vòng một vài năm sử dụng và tăng trong khoảng thời gian trở lại bình thường trong vòng một vài năm (ít nhất là năm năm) sau khi ngừng điều trị.
Trong MWS, các nguy cơ liên quan đến ung thư vú với estrogen liên hợp ngựa (CEE) hoặc estradiol (E2) được lớn hợn khi một dùng một progestagen, hoặc liên tục hoặc tiếp diễn, và bất kể loại progestagen nào. Không có bằng chứng sự khác nhau về nguy cơ gặp phải giữa các đường dùng khác nhau.
Trong nghiên cứu WHI, sản phẩm kết hợp estrogen liên hợp ngựa và medroxyprogesterone acetate (CEE + MPA) cho ung thư vú có kích thước hơi lớn hơn và có hạch bạch huyết tại chỗ thường xuyên hơn so với giả dược.
Chưa biết được liệu estriol có nguy cơ tương tự. Trong một nghiên cứu bệnh chứng dựa trên 3345 phụ nữ bị ung thư vú xâm lấn và 3454 kiểm soát, estriol không liên quan đến nguy cơ tăng ung thư vú, trái ngược với các estrogen khác. Một nghiên cứu khác, nghiên cứu năng lực quan sát rộng, nghiên cứu triệu phụ nữ, đã chỉ ra rằng so với không bao giờ sử dụng, việc sử dụng HRT kết hợp estrogen-progestogen có nguy cơ cao bị ung thư vú (RR = 2.00, 95% Cl: 1,88-2,12). Trong số ít phụ nữ sử dụng dạng bào chế HRT đường âm đạo hoặc tại chỗ khác, không có nguy cơ gia tăng ung thư vú (RR = 0.67, 95% Cl: 0.30- 1.49). Đối với tất cả HRT, bao gồm Eskdiol, những lợi ích và nguy cơ của việc điều trị cần xem xét cẩn thận. Khuyến cáo chung cho tất cả phụ nữ rằng nên báo cho bác sĩ biết bất kỳ thay đổi nào trên ngực của mình. Kiểm tra vú thường xuyên, nếu thích hợp, nên chụp X quang vú, đặc biệt là ở những phụ nữ có yếu tố nguy cơ bị ung thư vú.
Ung thư buồng trứng:
Ung thư buồng trứng là rất hiếm gặp, nhưng nó là bệnh rất nặng. Bệnh rất khó chẩn đoán, vì thường không có dấu hiệu rõ ràng. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, dùng HRT chỉ một estrogen trong hơn 5 năm có thể làm tăng nguy cơ ung thư buồng trứng. Cũng chưa biết liệu các loại HRT khác hoặc Eskdiol có làm tăng nguy cơ tương tự hay không.
Huyết khối tĩnh mạch:
HRT làm tăng nguy cơ tương đối cao phát triển huyết khối tĩnh mạch (VTE), ví dụ huyết khối tĩnh mạch sâu hoặc thuyên tắc phổi. Một nghiên cứu thử nghiệm và dịch tễ học ngẫu nhiên, có kiểm soát cho thấy người dùng HRT có nguy cơ bị huyết khối tĩnh mạch cao gấp 2-3 lần so với người không sử dụng. Đối với người không sử dụng HRT người ta ước tính rằng số lượng các trường hợp VTE đó sẽ xảy ra trong khoảng thời gian 5 năm là khoảng 3 trên 1000 phụ nữ tuổi từ 50 đến 59 và 8 trên 1000 phụ nữ tuổi từ 60-69. Người ta ước tính rằng ở phụ nữ khỏe mạnh, đã sử dụng HRT trong 5 năm, số lượng người bị VTE trong khoảng thời gian 5 năm sẽ là giữa 2 đến 6 (ước tính tốt nhất = 4) trên 1000 phụ nữ ở tuổi 50- 59 và giữa 5 đến 15 (ước tính tốt nhất = 9) trên 1000 phụ nữ tuổi từ 60-69. Sự xuất hiện VTE trong năm đầu dùng HRT nhiều hơn các năm sau. Các nghiên cứu này không bao gồm Eskdlol, và trong dữ liệu vắng mặt đó, không biết liệu Eskadiol mang nguy cơ tương tự.
Bệnh nhân có tình trạng huyết khối có tăng nguy cơ bị VTE và HRT làm tăng thêm nguy cơ này. Do đó HRT chống chỉ định ở những bệnh nhân VTE (xem Chống chỉ định).
Các yếu tố nguy cơ được ghi nhận lảm tăng VTE bao gồm sử dụng các estrogen, lớn tuồi, có phẫu thuật lớn, gây mê kéo dài, tiền sử cá nhân hay tiền sử gia đình, bệnh béo phì (chỉ số khối cơ thể > 30 kg/m2), mang thai/giai đoạn hậu sản, lupus ban đỏ hệ thống (SLE) và ung thư vú.
Không có kết luận về vai trò của giãn tĩnh mạch trong VTE. Nguy cơ VTE có thể tạm thời tăng lên với gây mê kéo dài, chấn thương nặng hoặc phẫu thuật lớn. Với tất cả các bệnh nhân sau hậu phẫu, nên chú ý các biện pháp phòng ngừa để ngăn chặn VTE sau phẫu thuật. Trường hợp phải gây mê kéo dài đẻ phẫu thuật, đặc biệt là phẫu thuật bụng, phẫu thuật chỉnh hình chi dưới, nên cho tạm dừng HRT 4-6 tuần trước đó, nếu có thể.
Sử dụng HRT ở những bệnh nhân có tiền sứ huyết khối tĩnh mạch tái phát hoặc tình trạng huyết khối đã điều trị bằng thuốc chống đông máu cần cân nhắc cẩn thận về các lợi ích-nguy cơ khi sử dụng HRT (xem Chống chỉ định). Tiền sử gia đình và bản thân có thuyên tắc huỵết khối tái phát hoặc sẩy thai tái phát phải được thăm hỏi kỹ để loại trừ bẩm chất ưa huyết khối. Khi có chẩn đoán chính xác và bất đầu điều trị thuôc chống đông, thì HRT được xem là chống chỉ định ở những bệnh nhân này. Phụ nữ đã điều trị bằng thuốc chống đông cần phải xem xét cẩn thận lợi ích-nguy cơ của việc sử dụng HRT.
ở những phụ nữ không có tiền sử VTE nhưng có nguy cơ bậc nhát về tiền sử huyết khối khi trẻ, cần sàng lọc cẩn thận. Nếu bệnh ưa huyết khối được xác định phân biệt với chứng huyết khối của các thành viên gia đình hoặc là bệnh nghiêm trọng (ví dụ thiếu chất chống đông, protein s, hoặc protein c hoặc kết hợp) thì chống chỉ định dùng HRT.
Nếu VTE phát triển sau khi dùng Eskadiol thì nên ngưng thuốc. Bệnh nhân phải liên lạc ngay với bác sĩ khi họ nhận tháy có triệu chứng nghẽn mạch huyết khối (ví dụ sưng đau một chân, đau đột ngột ở ngực, khó thở).
Bệnh động mạch vành (CAD):
Không có bằng chứng cho thấy có lợi trên tim mạch từ các nghiên cứu ngẫu nhiên khi dùng liên tục estrogen liên hợp kết hợp và medroxyprogester acetate (MPA). Hai thử nghiệm lâm sàng lớn (WHI and HERS Le. Heart Estrogen/progestin Replacement study) cho thấy có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch trong năm đầu tiên sử dụng và không có lợi ích tổng thể nào. Đối với các HRT khác cũng chỉ có dữ liệu hạn chế từ các thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát nên đến khả năng mắc bệnh hoặc tử vong do tim mạch. Vì vậy, nó là không chắc chắn cho dù những phát hiện này cũng mở rộng cho các sản phẩm HRT khác.
Có giả thuyết cho rằng liệu pháp thay thế estrogen ở phụ nữ sau mãn kinh có thể làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim. Những phụ nữ sử dụng estrogen khuyên không nên hút thuốc vì nó có thể làm tăng nguy cơ gặp các tác dụng không mong muốn.
Liệu pháp thay thế hormone kết hợp không nên dùng trong thời gian dài đề duy trì sức khỏe nói chung, bao gồm cả phòng bệnh tim mạch. Estriol không nằm trong loại này. Việc sử dụng đồng thời Estriol và các chất estrogen khác hoặc các oestrogen riêng chưa được nghiên cứu do đó không nên sử dụng đồng thời với các chất estrogen khác hoặc cơ chủ vận estrogen riêng do có thể làm tăng nguy cơ lâu dài.
Đột quỵ do thiếu máu cục bộ:
Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên lớn (WHI – trial) cho thấy, như một kết quả thứ cấp, có tăng nguy cơ đột quỵ do thiếu máu cục bộ ở những phụ nữ khỏe mạnh trong thời gian điều trị bằng estrogen liên hợp kết hợp và MPA. ở phụ nữ không sử dụng HRT, người ta ước tính rằng số lượng các trường hợp đột quỵ sẽ xảy ra trong khoảng thời gian 5 năm là khoảng 3 trên 1000 phụ nữ tuổi từ 50-59 và 11 trên 1000 phụ nữ tuổi từ 60-69. Người ta ước tinh rằng đối với những phụ nữ sử dụng estrogen liên hợp và MPA cho 5 năm, số lượng các trường hợp bổ sung sẽ là từ 0 đến 3 (ước tính tốt nhất = 1) trên 1000 người trong độ tuổi từ 50- 59 và từ 1 đến 9 (ước tính tốt nhất = 4) trên 1000 người trong độ tuổi 60-69. Không rõ các nguy cơ có gia tăng mở rộng cho các HRT khác.
Ung thư buồng trứng:
Trong một số nghiên cứu dịch tễ học việc sử dụng các sản phẩm HRT – một estrogen duy nhất, dài hạn (ít nhất 5-10 năm) trên phụ nữ đã cắt bỏ tử cung làm tăng nguy cơ ung thư vú. Không rõ việc sử dụng lâu dài HRT kết hợp hoặc estrogen hiệu lực thấp (như Eskdiol) có mang đến một nguy cơ khác hơn so với một estrogen duy nhầt.
Các trường hợp khác:
Estrogen có thể gây giữ nước, do đó bệnh nhân có rối loạn chức năng tim hoặc thận nên được theo dõi cẩn thận. Bệnh nhân bị bệnh thận giai đoạn cuối nên được theo dõi chặt chẽ, vì có thể nồng độ các chất có hoạt tính trong máu khi dùng Eskdiol tăng lên.
Estriol là một chất ức chế gonadotrophin không có tác dụng lên hệ nội tiết.
Nguy cơ bị u gan lành tính và ung thư tế bào gan gia tăng có liên liên quan đến việc sử dụng thuốc tránh thai đường uống, những tổn thương như vậy chưa được ghi nhận khi sử dụng các chế phẩm estrogen khác.
Đã ghi nhận có sự gia tăng gấp đôi nguy cơ bị bệnh túi mật ở phụ nữ dùng estrogen đường uống (bao gồm cả thuốc tránh thai đường uống). Tuy nhiên, chưa có báo cáo về bệnh túi mật khi dùng estriol viên nén, cream, hoặc viên đặt.
Phụ nữ nhạy cảm có thể bị tăng huyết áp. cần cần trọng khi kẽ đơn estrogen cho bệnh nhân tăng huyết áp; cần kiểm tra huyết áp thường xuyên trên các bệnh nhân này.
Do estrogen có thề lảm tăng kích thước của u xơ tử cung, các chuyên gia bệnh học cần quan tâm đến mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân điều trị bằng estrogen.
Bệnh nhân tiều đường, đau nửa đầu nặng, động kinh, hen suyễn, u xơ tuyến vú, rối lọa chức năng thận hoặc tim nên được theo dỗl cẩn thận khi dùng estrogen
Người bị bệnh chuyển hóa xương hoặc suy thận nên dùng thận trọng vì estrogen có ảnh hưởng đến chuyển hóa canxi và phốt pho
Không có bằng chứng làm tăng khả năng nhận thức. Có một số bằng chứng từ các thử nghiệm WH1 có thể tăng nguy cơ mất trí nhớ xảy ra ở phụ nữ sau tuổi 65 bắt đầu sử dụng CEE liên tục, kết hợp và MPA. Chưa biết liệu các kết quả này có xảy ra đối với phụ nữ trẻ bị mãn kinh hoặc các HRT khác.
Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.
Chưa được biết.
4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Xếp hạng cảnh báo
AU TGA pregnancy category: B1
US FDA pregnancy category: NA
Thời kỳ mang thai:
Không dùng cho phụ nữ có thai. Nếu có thai khi đang dùng Eskdiol thì phải dưng thuốc ngay khi phát hiện có thai.
Thời kỳ cho con bú:
Chưa có đủ dữ liệu về việc sử dụng thuốc khi đang cho con bú có ảnh hưởng đến trẻ nhỏ bú mẹ hay không. Estriol được bài tiết qua sữa mẹ và làm giảm tiết sữa.
4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):
Theo y văn và các báo cáo giảm sát an toàn thuốc, các tác dụng không mong muốn sau đã được ghi nhận:
| Hệ cơ quan | Tác dụng không mong muốn |
| Rối loạn dinh dưỡng và chuyến hóa | Giữ nước |
| Rối loạn hệ sinh dục và vú | Đau và khó chịu ở vú
Nám da sau mãn kinh Tăng dịch tiết âm đạo |
| Rối loạn toàn thân và tại vị trí dùng thuốc | Ngứa và kích ứng tại chỗ đặt thuốc
Triệu chứng giống cúm |
Là thụốc dùng trên bề mặt niêm mạc, Eskdiol có thế gây ngứa hoạc kích ứng ở những người rất nhạy cảm khi bắt đầu điều trị. Căng và đau ngực thường xuất hiện (tỉ lệ 0,1 – 1%). Nhìn chung, tác dụng này chỉ có tính chất tạm thời, nhưng cũng có thể là dấu hiệu của dùng liều quá cao.
Các tác dụng không mong muốn khác đã được báo cáo khi kết hợp với điều trị estrogen duy nhất và estrogen- progestagen kết hợp. Do không có dữ liệu, không biết liệu Eskdiol có khác biệt trong vấn đề này. Các ung thư lành tính và ác tính phụ thuộc estrogen, ví dụ ung thư nội mạc tử cung và ung thư vú. Xem thêm thông tin mục Chống chỉ định -và THẬN TRỌNG.
Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch, huyết khối tĩnh mạch sâu trong cẳng chân hoặc vùng chậu và tắc mạch phổi, xảy ra thường xuyên hơn ở những người sử dụng HRT so với người không sử dụng. Do không có dữ liệu, không biết liệu Eskdiol có khác biệt trong vấn đề này. Xem thêm thông tin mục Chống chỉ định và THẬN TRỌNG.
Nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
Bệnh túi mật
Da và rối loạn dưới da: sạm da, hồng ban đa dạng,nốt ban đỏ, xuất huyết mạch.
Có thể mắc bệnh mát trí nhớ sau tuổi 65 (xem Thận trọng lúc dùng).
Nguy cơ ung thư vú:
Theo bằng chứng từ một số lượng lớn các nghiên cứu dịch tễ học và một nghiên cứu ngẫu nhiên có kiểm soát giả dược, the Women’s Health Initiative (WHI), nguy cơ tổng thể bị ung thư vú tăng khi tăng thời gian sử dụng HRT ở người đang sử dụng HRT hoặc trước đây. Sản phẩm dùng tại chỗ (đường âm đạo) chưa được đưa vào nghiên cứu của WHI và có ít dữ liệu trong Million Women study. Hiện nay, chưa có dữ liệu cho estriol.
Đối với HRT chỉ dùng một estrogen, ước tính của nguy cơ tương tự (RR) từ một phân tích lại dữ liệu ban đầu từ 51 nghiên cứu dịch tễ học (trong đó> 80% sử dụng HRT là HRT chỉ dùng một estrogen) và từ MWS dịch tễ là tương tự nhau 1,35 (95% Cl 1,21-1,49) và 1,30 (95% Cl 1,21-1,40).
Đối với HRỊ estrogen cộng với progestagen kết hợp, một số nghiên cứu dịch tễ học đã báo cáo có rủi ro tổng thể mắc bệnh ung thư vú cao hơn so với dùng một minh oestrogen.
Các MWS báo cáo răng, so với việc không bao giờ sử dụng, việc sử dụng các loại oestrogen- progestagen kết hợp trong HRT có nguy cơ bị ung thư vú cao hơn (RR = 2,00, 95% Cl: 1,88-2,12) so với sử dụng một mình oestrogen (RR = 1.30, 95% Cl: 1,21-1,40) hoặc sử dụng tibolone (RR = 1,45; 95% Cl 1,25-1,68).
Thử nghiệm WHI báo cáo ước tính nguy cơ 1,24 (95% Cl 1,01-1,54) sau 5,6 năm sử dụng HRT estrogen – progestagen kết hợp (CEE + MPA) trong tất cả các người sử dụng so với giả dược.
Các nguy cơ tuyệt đối tính từ thử nghiệm của MWS và WHI được trình bày dưới đây: MWS đã ước tinh, từ tỷ lệ trung bình mắc bệnh ung thư vú ở các nước phát triển:
Đối với phụ nữ không sử dụng HRT, khoảng 32 trong số 1000 dự kiến sẽ có chẩn đoán bị ung thư vú trong độ tuổi từ 50 đến 64.
Đối với 1000 người dùng HRT hiện tại hay trước đây, số lượng các trường hợp bổ sung trong thời gian tương ứng sẽ là
Đối với người sử dụng HRTchỉ dùng estrogen
giữa 0 và 3 (ước tính tốt nhất =1.5) trong 5 năm sử dụng
giữa 3 và 7 (ước tính tốt nhất = 5) cho 10 năm sử dụng.
Đối với người sử dụng HRT dùng estrogen cộng với progestagen kết hợp,
giữa 5 và 7 (ước tính tốt nhất = 6) cho 5 năm sử dụng
giữa 18 và 20 (ước tính tốt nhất = 19) trong 10 nâm sử dụng.
Thử nghiệm của WHI ước tính rằng sau 5,6 năm theo dõi phụ nữ trong độ tuổi từ 50 đến 79 năm, có thêm 8 trường hợp ung thư vú xâm lấn có thể là do dùng HRT oestrogen- progestagen kết hợp (CEE + MPA) trên 10.000 phụ nữ.
Theo tính toán từ các dữ liệu thử nghiệm, người ta ước tính rằng:
Đối với 1000 phụ nữ ở nhóm dùng giả dược: khoảng 16 trường hợp ung thư vú xâm lấn sẽ được chẩn đoán trong 5 năm.
Đối với 1000 phụ nữ dùng HRT estrogen + progestagen kết hợp (CEE + MPA), số lượng các trường hợp bổ sung sẽ là giữa 0 và 9 (ước tính tốt nhất = 4) trong 5 năm sử dụng.
Số lượng các trường hợp bổ sung cùa bệnh ung thư vú ở những phụ nữ sử dụng HRT là tương tự nhau không phân biệt độ tuổi bắt đầu sử dụng HRT
Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Buồn nôn và nôn là phản ứng đầu tiên của liệu pháp estrogen ở một số người, nhưng tác dụng này có thể hết theo thời gian và có thể giảm thiểu bằng cách uống estrogen cùng thức ăn hoặc ngay trước khi đi ngủ.
Vú có thể căng đau và phù, nhưng đôi khi triệu chứng này giảm khi giảm liều.
Nếu tăng huyết áp hoặc có bất cứ một triệu chứng nào của bệnh huyết khối nghẽn mạch, vàng da ứ mật, trầm cảm nặng hoặc đau nửa đầu dai dang nghiêm trọng hoặc tái phát, phải ngừng estrogen. Có thể cần bo sung acid folic nếu có thiếu hụt folat.
4.8 Tương tác với các thuốc khác:
Các tương tác của Eskdiol với các thuốc khác chưa được ghi nhận trên lâm sàng. Do dữ liệu lâm sàng còn hạn chế, có thể vẫn có tương tác giữa Eskdiol với các thuốc khác. Các tương tác sau được mô tả khi sử dụng kết hợp với thuốc tránh thai đường uống, cũng có thể có tương quan với estriol.
Chuyển hóa của estrogen có thể tăng lên khi sử dụng đồng thời với các chất gây cảm ứng men chuyển hóa thuốc, đặc biệt là enzyme cytochrome P450, chẳng hạn như thuốc chống có giật (ví dụ như các hydantoin (phenytoin), các barbiturate (phenobarbital), Carbamazepin), và thuốc kháng khuẩn (ví dụ như griseofulvin, các rifamycin (rifampicin, rifabutin), các thuốc kháng retrovirus (nevirapine, efavirenz)).
Ritonavir và nelflnavir, mặc dù là chất ức chế mạnh, ngược lại có tác dụng hiệp đồng khi sử dụng đồng thời với các hormon steroid.
Các thuốc thảo dược có chứa St John’s wort (Hypericum perforatum) có thể gây tăng chuyển hóa estrogen. Trên lâm sàng, tăng chuyển hóa estrogen có thể dẫn đến giảm tác dụng và thay đổi chảy máu trong tử cung.
Estriol có thể có thể làm tăng tác dụng dược lý của các corticosteroid, succlnylcholine, theophyllines và troleandomycin. Nếu cần liều lượng nên được giảm. Estriol có thể thay đổi hiệu quả của thuốc chống đông đường uống.
4.9 Quá liều và xử trí:
Độc tính cấp của estriol trên động vật là rất thấp. Quá liều viên đặt Eskdiol sau khi dùng đường âm đạo là không thề xảy ra. Tuy nhiên, trong trường hợp nuốt một lượng lớn viên đặt có thể xảy ra buồn nôn, nôn, mất máu ở phụ nữ. Không có thuốc giải độc đặc hiệu. Điều trị triệu chứng nếu cần.
5. Cơ chế tác dụng của thuốc :
5.1. Dược lực học:
Nhóm dược lý: oestrogen bán tổng hợp và tự nhiên Mã ATC: G03C-A04
Eskadiol chứa oestriol – hormon nữ tự nhiên. Không giống như các oestrogen khác, estriol có tác dụng ngắn vì chỉ bị giữ lại một thời gian ngắn trong nhân các tế bào nội mạc tử cung. Estriol được dùng thay thế trong thời kỳ mãn kinh khi việc sản xuất oestrogen bi giảm và làm giảm bớt các triệu chứng mãn kinh. Estriol đặc biệt hiệu quả trong việc điều trị các triệu chứng tiết niệu – sinh dục. Trong trường hợp teo đường tiết niệu – sinh dục thấp estriol làm biểu mô âm đạo trở lại bình thường và như vậy giúp phục hồi vi khuẩn chí bình thường và độ pH sinh lý trong âm đạo.
Kết quả là, nó làm tăng sức đề kháng đường tiết niệu sinh dục chống lại nhiễm khuẩn và viêm, làm giảm khó chịu ở âm đạo như khô và ngứa, giao hợp đau, phòng ngừa nhiễm khuẩn tái diễn ở âm đạo và đường tiết niệu dưới, đái rắt và đái khó
Cơ chế tác dụng:
Estriol hay E3 là hormone nữ tự nhiên trong cơ thể, được dùng điều trị các rối loạn do thiếu estrogène ở giai đoạn ngay trước khi mãn kinh và sau mãn kinh. Estriol hữu hiệu trong điều trị rối loạn tiết niệu sinh dục. Khi teo âm đạo, Estriol giúp phục hồi biểu mô, hệ vi sinh vật và pH acide ở âm đạo, nhờ vậy bảo vệ âm đạo không bị viêm nhiễm.
Khác với Estrone (E1) và Estradiol (E2), Estriol (Ovestin) tác động ngắn, không kích thích tăng sinh nội mạc tử cung khi dùng liều duy nhất mỗi ngày. Do đó khi dùng Ovestin, không cần dùng thêm progestogène và như thế không bị xuất huyết âm đạo.
[XEM TẠI ĐÂY]
5.2. Dược động học:
Hấp thu
Đặt estriol trong âm đạo 0,5 mg đủ để có tác dụng tại chỗ. Estriol cũng được hấp thu vào đại tuần hoàn. Nồng độ đình đạt được trong huyết tương 1 – 2 giờ sau khi đặt, Cmax là khoảng 100 picogram / ml (pg / mL), Cmin là khoảng 25 pg /mL và Ctmngbinh là khoảng 70 pg/ mL estriol không liên hợp có hoạt tinh sinh học. Lượng hormone không liên hợp tương tự như trong khi mang thai là khoảng 10%. Sau 3 tuần dùng liều hàng ngày 0,5 mg estriol đặt âm đạo thì Ctmngbìnhđã giảm còn 40pg / ml.
Phân bố:
Gần như tất cả (90%) estriol gắn với albumin huyết tương và không giống các estrogen khác, rất ít gắn với globulin gắn hormone sinh dục (SHBG).
Chuyển hóa:
Chuyển hóa estriol chủ yếu gồm có liên hợp và khử liên hợp trong quá trình tuần hoàn ruột – gan. Các dạng liên hợp của estriol được tìm thấy trong cả nước tiểu và phân.
Thải trừ:
Estriol, một sản phẩm chuyển hóa cuối cùng, chủ yếu bài tiết dưới dạng liên hợp. Chỉ 1 lượng nhỏ (2%) bài tiết qua phân dưới dạng không liên hợp
5.3 Giải thích:
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
5.4 Thay thế thuốc :
Chưa có thông tin. Đang cập nhật.
*Lưu ý:
Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ
Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com
6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:
6.1. Danh mục tá dược:
Octyldodecanol,cetyl palmitate, glycerin, cetyl alcohol, stearyl alcohol, Polysorbate 60, sorbitan stearate, chlorhexidine dihydrochloride, lactic acid, sodium hydroxide to pH 4, purified water.
6.2. Tương kỵ :
Không áp dụng.
6.3. Bảo quản:
Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.
6.4. Thông tin khác :
Viên đạn hình thủy lôi màu trắng đục, chảy và mềm ra ở 37oC ± 20C.
6.5 Tài liệu tham khảo:
Dược Thư Quốc Gia Việt Nam