Cấu trúc hóa học của dược chất Aliskiren (Aliskiren chemical)

Aliskiren – (Hoạt chất)

Thông tin chung về hoạt chất, dược chất Aliskiren

Aliskiren là thuốc đầu tiên trong nhóm thuốc ức chế trực tiếp hệ renin. Nó được sử dụng để điều trị tăng huyết áp nguyên phát. Hiện nay Aliskiren đã dừng lưu hành do các nhà nghiên cứu đã đánh giá nguy cơ nhiều hơn các lợi ích mà nó đem lại. Dưới đây là thông tin chung của hoạt chất, thuốc Aliskiren (Thông tin bao gồm liều dùng, cách dùng, chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, dược lý…):

1. Tên hoạt chất và biệt dược:

Hoạt chất : Aliskiren

Phân loại: Thuốc tác động trên hệ tim mạch > Thuốc chống tăng huyết áp > Ức chế Receptor Angiotensin II và Renin.

Nhóm pháp lý: Thuốc kê đơn ETC – (Ethical drugs, prescription drugs, Prescription only medicine)

Mã ATC (Anatomical Therapeutic Chemical): C09XA02.

Biệt dược gốc: Hiện chưa có thuốc đăng ký biệt dược gốc tại Việt Nam.

Thuốc Generic: Hiện chưa có thuốc nào lưu hành tại Việt Nam.

2. Dạng bào chế – Hàm lượng:

Dạng thuốc và hàm lượng

Viên nén bao phim 150 mg, 300mg.

Hiện nay thuốc này đã dừng lưu hành do các tác dụng phụ cũng như có các loại thuốc huyết áp khác được nghiên cứu tốt hơn .

Hình ảnh cấu trúc hóa học của dược chất:

Cấu trúc hóa học của dược chất Aliskiren (Aliskiren chemical)

3. Thông tin dành cho người sử dụng:

3.1. Aliskiren là thuốc gì?

Aliskiren là thuốc đầu tiên trong nhóm thuốc ức chế trực tiếp hệ renin. Nó được sử dụng để điều trị tăng huyết áp nguyên phát. Hiện nay Aliskiren đã dừng lưu hành do các nhà nghiên cứu đã đánh giá nguy cơ nhiều hơn các lợi ích mà nó đem lại.

Vào tháng 12 năm 2011, Novartis đã tạm dừng thử nghiệm Aliskiren sau khi phát hiện ra tỷ lệ đột quỵ gia tăng, biến chứng thận, tăng kali máu … ở những người mắc bệnh đái tháo đường và người có bệnh thận.

3.2. Câu hỏi thường gặp phổ biến:

Aliskiren có nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam không?

Aliskiren chưa lưu hành tại Việt Nam, vì vậy thuốc này KHÔNG nằm trong danh mục bảo hiểm y tế ở Việt Nam.

4. Thông tin dành cho nhân viên y tế:

4.1. Chỉ định:

Điều trị tăng huyết áp.

4.2. Liều dùng – Cách dùng:

Cách dùng :

Dùng đường uống. Aliskiren có thể dùng không liên quan đến bữa ăn.

Liều dùng:

Tăng huyết áp:

Aliskiren có thể dùng đơn độc hoặc kết hợp với các thuốc chống tăng huyết áp khác.

Liều Aliskiren khởi đầu được khuyến cáo là 150 mg, 1 lần mỗi ngày. Ở những bệnh nhân mà huyết áp không được kiểm soát đầy đủ, có thể tăng liều đến 300 mg, 1 lần mỗi ngày. Tác dụng chống tăng huyết áp xảy ra đáng kể trong vòng 2 tuần (85 đến 90%) sau khi khởi đầu điều trị 150 mg, 1 lần mỗi ngày.

Sử dụng ở bệnh nhân cao tuổi (trên 65 tuổi): Không cần điều chỉnh liều đối với bệnh nhân cao tuổi.

Suy thận: Không cần điều chỉnh liều đối với bệnh nhân suy thận từ nhẹ đến nặng.

Suy gan: Không cần điều chỉnh liều đối với bệnh nhân suy gan từ nhẹ đến nặng.

Trẻ em và thiếu niên: Độ an toàn và hiệu quả của Aliskiren chưa được xác định ở trẻ em và thiếu niên (dưới 18 tuổi), vì vậy không có khuyến cáo dùng Aliskiren ở nhóm bệnh nhân này.

4.3. Chống chỉ định:

Thuốc chống chỉ định trong trường hợp bệnh nhân bị dị ứng hoặc tăng mẫn cảm với các thành phần của thuốc.

4.4 Thận trọng:

Thuốc này chỉ dùng theo đơn của bác sĩ.

Có thai:

Aliskien không gây quái thai trong các thử nghiệm chuẩn trên động vật và không có các tác dụng liên quan đến điều trị trong các nghiên cứu về sự phát triển trước khi sinh ở chuột cống. Tuy nhiên các chất khác tác động trực tiếp trên hệ renin-angiotensin có liên quan với dị dạng bào thai nghiêm trọng và chết khi mới sinh. Vì không có các nghiên cứu lâm sàng đặc hiệu được thực hiện, do đó không khuyên dùng trong khi có thai hoặc không khuyên dùng ở phụ nữ dự định có thai. Các bác sĩ khi kê đơn bất kỳ thuốc nào tác dụng lên hệ Renin-angiotensin (RAS) cần tư vấn cho những phụ nữ mang thai về nguy cơ có thể có của những thuốc này trong thai kỳ. Khi đã biết có thai phải ngưng dùng Aliskiren càng sớm càng tốt.

Bệnh nhân mất natri và/hoặc mất thể tích: Ở những bệnh nhân mất thể tích và/hoặc mất muối (ví dụ những người đang dùng thuốc lợi tiểu liều cao), triệu chứng hạ huyết áo có thể xảy ra sau khi bắt đầu điều trị bằng Aliskiren. Cần điều chỉnh tình trạng này trước khi dùng Aliskiren, hoặc nên bắt đầu điều trị dưới sự giám sát y khoa chặt chẽ.

Suy chức năng thận: Trong các nghiên cứu lâm sàng, Aliskiren chưa được nghiên cứu ở bệnh nhân tăng huyết áp có rối loạn chức năng thận nặng (creatinine ≥ 150 micromol/L đối với phụ nữ và ≥ 177 micromol/L đối với nam giới và/hoặc tốc độ lọc của cầu thận (GFR) < 30 mL/phút), tiền sử có thẩm phân, hội chứng thận hư hoặc tăng áp mạch máu thận. Cần thận trọng ở những bệnh nhân tăng huyết áp có suy thận nặng do chưa có nhiều dữ liệu về thông tin an toàn đối với Aliskiren. Các thuốc khác tác động trên hệ renin-angiotensin có thể làm tăng kali, creatinin huyết thanh và nitơ urê máu ở những bệnh nhân này và tác dụng tương tự có thể dự đoán khi dùng Aliskiren.

Hẹp động mạch thận: Chưa có dữ liệu về việc dùng Aliskiren ở bệnh nhân bị hẹp động mạch thận một bên hoặc hai bên hoặc hẹp động mạch ở một thận.

Dùng đồng thời với ciclosporin A: Không khuyến cáo việc dùng đồng thời aliskiren với ciclosporin A, một chất ức chế P glycoprotein rất mạnh

Tác động của thuốc trên người lái xe và vận hành máy móc.

Chưa có nghiên cứu được thực hiện về tác động trên khả năng lái xe và sử dụng máy móc.

4.5 Sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú:

Xếp hạng cảnh báo

AU TGA pregnancy category: D

US FDA pregnancy category: NA

Thời kỳ mang thai:

Chưa có dữ liệu đầy đủ về việc dùng aliskiren ở phụ nữ có thai. Aliskiren không gây quái thai ở chuột cống hoặc thỏ. Tuy nhiên, các chất khác tác động trực tiếp trên hệ renin-angiotensin có liên quan với các dị dạng bào thai nghiêm trọng và chết khi mới sinh ra. Cũng như bất kỳ thuốc nào tác động trực tiếp trên hệ RAS, không nên dùng Aliskiren trong khi có thai hoặc ở phụ nữ dự định có thai. Các bác sĩ khi kê đơn bất kỳ thuốc nào tác động trên hệ RAS cần tư vấn cho phụ nữ có khả năng mang thai về nguy cơ có thể có của những thuốc này trong khi có thai. Nếu phát hiện có thai trong khi đang điều trị, phải ngừng dùng Aliskiren càng sớm càng tốt.

Thời kỳ cho con bú:

Chưa rõ có phải aliskiren được bài tiết vào sữa mẹ hay không. Aliskiren được tiết vào sữa của chuột đang cho con bú. Do khả năng có các tác dụng phụ ở trẻ đang bú mẹ, cần quyết định có phải nên ngừng cho con bú hoặc ngừng dùng Aliskiren, có tính đến tầm quan trọng của Aliskiren đối với người mẹ.

4.6 Tác dụng không mong muốn (ADR):

Aliskiren đã được đánh giá về độ an toàn trên hơn 7800 bệnh nhân, bao gồm trên 2300 người được điều trị trong 6 tháng và hơn 1200 người được điều trị trong 1 năm. Tỷ lệ các phản ứng phụ cho thấy không liên quan với giới, tuổi, chỉ số khối cơ thể, chủng tộc hoặc dân tộc. Việc điều trị bằng Aliskiren đến 300 mg được dung nạp tốt với tỷ lệ chung các phản ứng phụ giống như khi dùng giả dược. Nói chung các phản ứng phụ về bản chất đều nhẹ và thoáng qua và chỉ thỉnh thoảng mới cần ngừng điều trị. Phản ứng phụ của thuốc hay gặp nhất là tiêu chảy.

Aliskiren không liên quan với tăng tỷ lệ ho khan như xảy ra điển hình khi dùng các chất ức chế men chuyển angiotensin (ACE). Tỷ lệ ho giống nhau ở bệnh nhân dùng giả dược (0,6%) và bệnh nhân dùng Aliskiren (0,9%).

Phù mạch có xảy ra trong khi điều trị bằng Aliskiren. Trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm chứng, phù mạch hiếm khi xảy ra trong khi điều trị bằng Aliskiren với tỷ lệ giống như điều trị bằng giả dược hoặc hydrochlorothiazide. Bệnh nhân nên ngừng điều trị và nên báo cho bác sĩ bất kỳ dấu hiệu nào gợi ý về phản ứng dị ứng (đặc biệt là khó thở hoặc khó nuốt, sưng mặt, các chi, mắt, môi, lưỡi).

Các phản ứng phụ của thuốc (bảng 1) được xếp theo đề mục về tần suất, đầu tiên là hay gặp nhất, sử dụng quy ước sau đây: rất hay gặp (≥ 1/10), hay gặp (≥ 1/100, < 1/10), ít gặp (≥ 1/1.000, < 1/100), hiếm gặp (≥ 1/10.000, < 1/1.000), rất hiếm gặp (< 1/10.000) kể cả các báo cáo lẻ tẻ. Trong mỗi nhóm tần suất, các phản ứng phụ được xếp theo thứ tự độ nghiêm trọng giảm dần.

Rối loạn tiêu hóa

Hay gặp:Tiêu chảy

Rối loạn da và mô dưới da

Ít gặp: Nổi ban

Xét nghiệm

Trong các thử nghiệm lâm sàng có kiểm chứng, các thay đổi liên quan trên lâm sàng về các thông số xét nghiệm chuẩn ít liên quan với việc dùng Aliskiren. Trong các nghiên cứu lâm sàng ở bệnh nhân tăng huyết áp, Aliskiren không có các tác dụng quan trọng trên lâm sàng về cholesterol toàn phần, lipoprotein tỷ trọng cao (HDL), triglyceride lúc đói, glucose lúc đói hoặc acid uric.

Hemoglobin và haematocrit: Đã quan sát thấy giảm nhẹ haemoglobin và haematocrit (giảm trung bình khoảng 0,05 mmol/L đối với haemoglobin và 0,16% thể tích đối với haematocrit). Không có bệnh nhân nào phải ngừng điều trị do thiếu máu. Tác dụng này cũng gặp khi dùng các thuốc khác tác động trên hệ renin-angiotensin như các thuốc ức chế men chuyển angiotensin và các thuốc chẹn thụ thể angiotensin.

Kali huyết thanh: Tăng kali huyết thanh nhẹ và ít gặp ở bệnh nhân tăng huyết áp vô căn được điều trị bằng Aliskiren đơn thuần (0,9% so với 0,6% khi dùng giả dược). Tuy nhiên, trong một nghiên cứu mà Aliskiren được dùng kết hợp với một thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACET) ở nhóm bệnh nhân đái tháo đường, tăng kali huyết thanh thường gặp hơn (5,5%). Vì vậy cũng như với bất kỳ thuốc nào tác động trên hệ RAS, việc theo dõi thường xuyên các chất điện giải và chức năng thận được chỉ định ở nhóm bệnh nhân đái tháo đường khi dùng Aliskiren.

Thông báo cho Bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

4.7 Hướng dẫn cách xử trí ADR:

Ngừng sử dụng thuốc. Với các phản ứng bất lợi nhẹ, thường chỉ cần ngừng thuốc. Trường hợp mẫn cảm nặng hoặc phản ứng dị ứng, cần tiến hành điều trị hỗ trợ (giữ thoáng khí và dùng epinephrin, thở oxygen, dùng kháng histamin, corticoid…).

4.8 Tương tác với các thuốc khác:

Aliskiren có khả năng tương tác thấp với các thuốc khác.

Các hợp chất đã được điều tra trong các nghiên cứu dược động học lâm sàng bao gồm acenocoumarol, atenolol, celecoxib, fenofibrate pioglitazone, allopurinol, isosorbide-5-mononitrate, irbesartan, digoxin, ramipril và hydrochlorothiazide và không có tương tác nào được nhận biết.

Dùng kết hợp aliskiren với valsartan (giảm 28%), metformin (giảm 28%), amlodipine (tăng 29%) hoặc cimetidine (tăng 19%) dẫn đến thay đổi 20%-30% nồng độ cao nhất (Cmax) hoặc diện tích dưới đường cong (AUC) của aliskiren.

Khi dùng với atorvastatin, AUC và Cmax của aliskiren ở trạng thái ổn định tăng 50%. Dùng kết hợp aliskiren không có ảnh hưởng đáng kể lên dược động học của atorvastatin, valsartan, metformin hoặc amlodipine. Kết quả là không cần điều chỉnh liều đối với aliskiren hoặc các thuốc được dùng kết hợp này.

Tương tác với CYP 450: Aliskiren không ức chế các isoenzyme CYP450 (CYP1A2, 2C8, 2C9, 2C19, 2D6, 2E1 và CYP3A). Aliskiren không gây cảm ứng CYP3A4. Aliskiren được chuyển hóa rất ít bởi các enzyme cytochrome P450 vì vậy không có khả năng có tương tác với những chất ức chế hoặc gây cảm ứng hoặc được chuyển hóa bởi các enzyme này.

Tương tác với P glycoprotein: MDR1/Mdr1a/1b (Pgp) đã được xác nhận là hệ thống phân bố chủ yếu liên quan đến sự hấp thu và sử dụng aliskiren trong các nghiên cứu tiền lâm sàng. Khả năng tương tác thuốc ở vị trí Pgp có thể phụ thuộc vào mức độ ức chế của chất vận chuyển này.

Các cơ chất Pgp hoặc các chất ức chế yếu-trung bình: Không quan sát thấy các tương tác thích đáng với atenolol, digoxin, amlodipine và cimetidine.

Các chất ức chế mạnh Pgp: Khi dùng với atorvastatin (80 mg), AUC và Cmax của aliskiren (300 mg) ở trạng thái ổn định tăng 50%. Dùng đồng thời ketoconazole (200 mg) với aliskiren (300 mg) dẫn đến tăng 80% nồng độ của aliskiren (AUC và Cmax) trong huyết tương. Các nghiên cứu tiền lâm sàng chỉ ra rằng dùng kết hợp ketoconazole với aliskiren làm tăng hấp thu aliskiren ở dạ dày ruột và làm giảm bài tiết mật. Sự thay đổi của nồng độ aliskiren trong huyết tương với sự có mặt của atorvastatin và ketoconazole được cho rằng sẽ xảy ra trong giới hạn mà nếu liều dùng aliskiren được tăng gấp đôi, liều aliskiren tăng lên đến 600 mg hoặc gấp hai lần liều điều trị cao nhất được khuyến cáo, đã nhận thấy là hấp thu tốt trong các nghiên cứu lâm sàng có kiểm chứng. Do đó không cần điều chỉnh liều aliskiren.

Các chất ức chế rất mạnh Pgp: Một nghiên cứu về tương tác thuốc với liều duy nhất ở người khỏe mạnh cho thấy rằng ciclosporin (200 và 600 mg) làm tăng Cmax của aliskiren 75 mg lên khoảng 2,5 lần và AUC lên khoảng 5 lần. Do đó việc dùng đồng thời hai loại thuốc này không được khuyến cáo (xem phần Chú ý đề phòng và thận trọng lúc dùng)

Furosemide: Khi dùng kết hợp aliskiren với furosemide, AUC của furosemide giảm 28% và Cmax của furosemide giảm 49%. Vì vậy, khuyến cáo theo dõi các tác dụng này khi bắt đầu và điều chỉnh việc điều trị bằng furosemide để tránh khả năng bất lợi trong các tình trạng lâm sàng do quá thừa dịch.

Kali và các thuốc lợi tiểu giữ kali: Dựa trên kinh nghiệm về việc dùng các thuốc khác ảnh hưởng đến hệ rennin-angiotensin, việc dùng kết hợp aliskiren với các thuốc sau đây có thể dẫn đến làm tăng nồng độ kali trong huyết thanh: các thuốc lợi tiểu giữ kali, các chất bổ sung kali hoặc các chất thay thế muối chứa kali. Nếu cần xem xét dùng kết hợp, nên thận trọng khi dùng (xem phần Tác dụng ngoại ý).

4.9 Quá liều và xử trí:

Chưa có nhiều dữ liệu về sử dụng quá liều ở người. Biểu hiện có thể gặp nhiều nhất khi dùng quá liều là hạ huyết áp, liên quan với tác dụng chống tăng huyết áp của aliskiren. Nếu xảy ra hạ huyết áp triệu chứng cần bắt đầu điều trị hỗ trợ.

5. Cơ chế tác dụng của thuốc :

5.1. Dược lực học:

Rennin được bài tiết ở thận đáp ứng với sự giảm thể tích máu và sự tưới máu ở thận. Đáp ứng này bắt đầu một chu kỳ bao gồm hệ rennin-angiotensin (RAS) và một vòng phản hồi sự hằng định nội môi. Renin phân cắt angiotensinogen thành dạng angiotensin I (Ang I) decapeptide không có hoạt tính. Angiotensin I được biến đổi thành angiotensin II (Ang II) octapeptide có hoạt tính bởi men chuyển angiotensin (ACE) và các đường không phải qua men chuyển angiotensin. Ang II là một chất gây co mạch mạnh và dẫn đến phóng thích các catecholamine từ tủy thượng thận và đầu tận cùng dây thần kinh trước chỗ nối. Ang II còn làm tăng cường sự tiết aldosterone và tái hấp thu natri. Đồng thời, những tác dụng này làm tăng huyết áp. Tăng Ang II kéo dài dẫn đến biểu hiện của các yếu tố chỉ thị và các chất trung gian về viêm và sự xơ hóa có liên quan với tổn thương cơ quan cuối cùng. Ang II còn ức chế sự phóng thích renin, do đó cho tác dụng phản hồi bất lợi đối với hệ thống này. Hoạt tính của renin trong huyết tương (PRA) tăng không phụ thuộc vào sự liên quan với nguy cơ tim mạch tăng ở bệnh nhân tăng huyết áp và bệnh nhân có huyết áp bình thường.

Tất cả những thuốc ức chế hệ thống này, bao gồm thuốc ức chế renin, ức chế sự phản hồi âm tính dẫn đến sự tăng bù trừ về nồng độ renin trong huyết tương. Khi sự tăng này xảy ra trong khi điều trị bằng các chất ức chế ACE và các ARB, nó đi kèm theo sự tăng nồng độ PRA. Tuy nhiên, trong khi điều trị bằng aliskiren, tác dụng phản hồi được trung hòa. Kết quả là tất cả PRA, Ang I và Ang II đều giảm, dù aliskiren được dùng dưới dạng đơn trị liệu hay kết hợp với các thuốc chống tăng huyết áp khác.

Việc điều trị bằng Aliskiren làm giảm PRA ở các bệnh nhân tăng huyết áp. Trong các thử nghiệm lâm sàng, PRA làm giảm ở mức khoảng 50% đến 80%. Đã thấy sự giảm tương tự khi aliskiren được dùng kết hợp với các thuốc chống tăng huyết áp khác.

Cơ chế tác dụng:

Aliskiren là một chất ức chế trực tiếp renin ở người không peptide, mạnh và có chọn lọc, có hoạt tính, dùng đường uống. Aliskiren nhắm vào hệ renin-angiotensin (RAS) ở điểm hoạt hóa bằng cách gắn kết với enzyme renin nhờ đó ngăn cản sự biến đổi angiotensinogen thành angiotensin I và làm giảm mức hoạt tính của renin trong huyết tương (PRA), angiotensin I và angiotensin II.

[XEM TẠI ĐÂY]

5.2. Dược động học:

Hấp thu: Sau khi dùng đường uống, nồng độ đỉnh của aliskiren trong huyết tương đạt được sau 1 đến 3 giờ. Sinh khả dụng tuyệt đối của aliskiren là 2,6 %. Thức ăn làm giảm Cmax và nồng độ tồn lưu (diện tích dưới đường cong) nhưng ảnh hưởng rất ít đến dược lực học, vì vậy có thể dùng thuốc không liên quan với thức ăn. Nồng độ trong huyết tương ở trạng thái ổn định đạt được trong vòng 5-7 ngày sau khi dùng 1 lần mỗi ngày và nồng độ ở trạng thái ổn định cao hơn gấp khoảng 2 lần so với khi dùng liều khởi đầu.

Phân bố: Aliskiren được phân bố toàn thân một cách đều đặn sau khi dùng đường uống. Sau khi dùng đường tĩnh mạch, thể tích phân bố trung bình ở trạng thái ổn định khoảng 135 lít cho thấy là aliskiren phân bố rộng rãi vào khoang ngoài mạch máu. Sự gắn kết của aliskiren với protein huyết tương là trung bình (47 đến 51%) và không phụ thuộc vào nồng độ.

Chuyển hóa và thải trừ: Thời gian bán thải trung bình khoảng 40 giờ (ở mức từ 34 đến 41 giờ). Aliskiren chủ yếu được thải trừ dưới dạng hợp chất không đổi trong phân (91%). Khoảng 1,4% của tổng liều uống được chuyển hóa. Enzyme chịu trách nhiệm đối với sự chuyển hóa này là CYP3A4. Khoảng 0,6% liều được tìm thấy trong nước tiểu sau khi dùng đường uống. Sau khi dùng đường tĩnh mạch, độ thanh thải huyết tương trung bình khoảng 9 lít/giờ.

Sự tuyến tính/không tuyến tính: Nồng độ đỉnh trong huyết tương (Cmax) và nồng độ tồn lưu (diện tích dưới đường cong) của aliskiren tăng tuyến tính với sự tăng liều ở mức từ 75 mg đến 600 mg.

Các đặc điểm ở bệnh nhân: Aliskiren là một thuốc điều trị chống tăng huyết áp dùng một lần mỗi ngày có hiệu quả ở bệnh nhân người lớn, bất kể giới, tuổi, chỉ số khối cơ thể và chủng tộc. Dược động học của aliskiren được đánh giá ở những bệnh nhân có các mức độ suy thận khác nhau. AUC và Cmax tương đối của aliskiren ở những người bị suy thận ở mức từ 0,8 đến gấp 2 lần so với AUC và Cmax ở những người khỏe mạnh sau khi dùng liều đơn và ở trạng thái ổn định. Tuy nhiên những thay đổi đã quan sát được này không tương quan với độ nặng của suy thận. Không cần điều chỉnh liều Aliskiren ở những bệnh nhân suy thận từ nhẹ đến nặng, tuy nhiên cần thận trọng ở những bệnh nhân suy thận nặng. Dược động học của aliskiren không bị ảnh hưởng đáng kể ở những bệnh nhân bị bệnh gan từ nhẹ đến nặng. Do đó không cần điều chỉnh liều Aliskiren ở bệnh nhân suy gan từ nhẹ đến nặng. Cũng không cần điều chỉnh liều Aliskiren đối với bệnh nhân cao tuổi.

5.3. Hiệu quả lâm sàng:

Tăng huyết áp

Ở bệnh nhân tăng huyết áp, Aliskiren làm giảm kéo dài, không phụ thuộc liều về huyết áp tâm thu lẫn tâm trương. Dùng Aliskiren 1 lần mỗi ngày với liều 150 mg và 300 mg làm giảm huyết áp có hiệu quả theo khoảng cách liều trong suốt 24 giờ (duy trì sự có lợi vào sáng sớm) với tỷ số nồng độ đỉnh so với nồng độ đáy trung bình đối với đáp ứng tâm trương là 98% khi dùng 1 liều 300 mg. Sau 2 tuần đã quan sát thấy 85 đến 90% tác dụng làm hạ huyết áp tối đa. Tác dụng làm hạ huyết áp được duy trì ở những bệnh nhân được điều trị đến 1 năm như đã được chứng minh bằng sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với giả dược 4 tuần sau khi ngừng điều trị ngẫu nhiên. Khi ngừng điều trị, huyết áp dần dần trở về mức bình thường trong một giai đoạn vài tuần, không có dấu hiệu về tác dụng hồi ứng đối với huyết áp hoặc PRA.

Không có dấu hiệu hạ huyết áp với liều đầu tiên và không có tác dụng trên nhịp mạch ở những bệnh nhân được điều trị trong các thử nghiệm lâm sàng: Ít gặp hạ huyết áp quá mức (0,1%) ở những bệnh nhân tăng huyết áp không biến chứng được điều trị bằng Aliskiren đơn thuần. Hạ huyết áp cũng ít gặp (< 1%) trong điều trị kết hợp với các thuốc chống tăng huyết áp khác.

Trong các nghiên cứu có kiểm chứng, tác dụng làm hạ huyết áp của Aliskiren khi dùng kết hợp với hydrochlorothiazide hoặc với ramipril được tăng thêm và sự kết hợp này được dung nạp tốt. Sự kết hợp Aliskiren và ramipril là chất ức chế ACE có tỷ lệ ho thấp hơn so với khi dùng ramipril (aliskiren/ramipril là 1,8% so với ramipril là 4,7%). Aliskiren 150 mg còn có tác dụng làm hạ huyết áp thêm và được dung nạp tốt ở những bệnh nhân không đáp ứng đầy đủ với một liều 5 mg amlodipine là thuốc chẹn kênh calci. Hiệu quả này giống như hiệu quả đạt được khi dùng 10 mg amlodipine nhưng có tỷ lệ phù thấp hơn (aliskiren/ramipril là 2,1% so với ramipril là 11,2%). Dùng kết hợp với ARB valsartan cũng được dung nạp tốt.

Aliskiren có hiệu quả làm hạ huyết áp tương đương với các nhóm thuốc khác chống tăng huyết áp bao gồm các thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACEIs), thuốc chẹn thụ thể angiotensin (ARBs) và thuốc chẹn kênh calci (CCBs).

Tác dụng chống tăng huyết áp của Aliskiren và hydrochlorothiazide (HCTZ) được so sánh trong một nghiên cứu nhóm tương tự, mù đôi, ngẫu nhiên trong 26 tuần có thêm amlodipine không bắt buộc. Sau 12 tuần dùng đơn trị liệu aliskiren 300 mg và HCTZ 25 mg, giảm huyết áp (tâm thu/tâm trương) so với mức cơ bản là 17,0/12,3 mmHg đối với aliskiren và 14,4/10,5 mmHg đối với HCTZ. Ở tiêu chí nghiên cứu, giảm huyết áp (tâm thu/tâm trương) so với mức cơ bản là 19,6/14,2 mmHg với chế độ dùng aliskiren 300 mg và 17,9/13,0 mmHg với chế độ dùng HCTZ 25 mg.

Ở những bệnh nhân tăng huyết áp do đái tháo đường, dùng Aliskiren dưới dạng đơn trị liệu an toàn và hiệu quả. Khi kết hợp với ramipril, Aliskiren làm giảm huyết áp thêm so với khi dùng mỗi thuốc duới dạng đơn trị liệu.

Ở bệnh nhân tăng huyết áp có béo phì điều trị không đầy đủ bằng HTCZ, khi điều trị thêm bằng Aliskiren làm giảm huyết áp thêm tương đương với giảm huyết áp khi điều trị thêm với irbesartan hoặc amlodipine.

Tác dụng chống tăng huyết áp của Aliskiren không phụ thuộc tuổi, giới, chỉ số khối cơ thể và chủng tộc.

5.4. Dữ liệu tiền lâm sàng:

Tính gây ung thư:

Khả năng gây ung thư đã được đánh giá trong một nghiên cứu 2 năm ở chuột cống và một nghiên cứu 6 tháng ở chuột nhắt có biến đổi gen. Chưa phát hiện khả năng gây ung thư. Đã quan sát thấy những thay đổi về viêm và tăng sinh ở đường tiêu hóa đoạn thấp ở các liều 750 hoặc 1500 mg/kg/ngày trên cả hai loài. Một trường hợp u tuyến đại tràng và một ung thư biểu mô tuyến manh tràng đã được ghi nhận trên chuột cống ở liều 1500 mg/kg/ngày không có ý nghĩa thống kê. Những dấu chứng này được quy cho khả năng kích ứng đã biết của aliskiren. Giới hạn an toàn đạt được trên người ở liều 300 mg gấp 9-11 lần dựa vào nồng độ trong phân hoặc gấp 6 lần dựa vào nồng độ trong niêm mạc khi so sánh với mức liều không quan sát thấy tác dụng có hại (NOAEL) là 250 mg/kg/ngày trong một nghiên cứu về tính gây ung thư trên chuột cống.

Tính gây đột biến:

Aliskiren không có bất kỳ khả năng gây đột biến nào trong các nghiên cứu về tính gây đột biến in vitro và in vivo. Các thử nghiệm này bao gồm thử nghiệm in vitro trên tế bào vi khuẩn và tế bào động vật có vú và các đánh giá in vivo trên chuột cống.

Độc tính về sinh sản:

Các nghiên cứu về độc tính sinh sản với aliskiren không phát hiện bất kỳ bằng chứng nào về độc tính đối với phôi thai hoặc tính gây quái thai ở các liều lên đến 600 mg/kg/ngày ở chuột cống hoặc 100 mg/kg/ngày ở thỏ. Khả năng sinh sản, sự phát triển trước khi sinh và sự phát triển sau sinh không bị ảnh hưởng ở chuột cống khi dùng các liều lên đến 250 mg/kg/ngày. Liều này ở chuột cống gấp 6-16 lần và ở thỏ gấp 6 lần so với liều tối đa được khuyến cáo ở người (300 mg) trên cơ sở mg/m2 (tính giả định trên một bệnh nhân nặng 50 kg).

*Lưu ý:

Các thông tin về thuốc trên Pharmog.com chỉ mang tính chất tham khảo – Khi dùng thuốc cần tuyệt đối tuân theo theo hướng dẫn của Bác sĩ

Chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ hậu quả nào xảy ra do tự ý dùng thuốc dựa theo các thông tin trên Pharmog.com

6. Phần thông tin kèm theo của thuốc:

6.1. Danh mục tá dược:

Xem chi tiết tại tờ hướng dẫn sử dụng của từng biệt dược.

6.2. Tương kỵ :

Không áp dụng.

6.3. Bảo quản:

Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 30°C.

6.4. Thông tin khác :

Chưa có thông tin.

6.5 Tài liệu tham khảo:

Tờ HDSD Thuốc Rasilez.

7. Người đăng tải /Tác giả:

Bài viết được sưu tầm hoặc viết bởi: Bác sĩ nhi khoa – Đỗ Mỹ Linh.

Kiểm duyệt , hiệu đính và đăng tải: PHARMOG TEAM